Bản tiếng Anh từ Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.
Nguyễn Huy Vũ dịch và giới thiệu.
Giới thiệu:
Trong Luận cương Liên bang số 5, John Jay tiếp tục bảo vệ quan điểm rằng sự thống nhất là điều kiện tiên quyết để bảo vệ nền độc lập của Hoa Kỳ. Dựa trên bài học từ cuộc Liên hiệp giữa Anh và Scotland cũng như lịch sử châu Âu, ông lập luận rằng nếu nước Mỹ bị chia thành nhiều quốc gia độc lập, thì sự cân bằng quyền lực sẽ nhanh chóng bị phá vỡ, lòng nghi kỵ sẽ thay thế tình đoàn kết, và các quốc gia mới sẽ dần trở thành đối thủ của nhau hơn là đồng minh.
Theo John Jay, khi lợi ích kinh tế và đối ngoại không còn thống nhất, mỗi quốc gia sẽ có xu hướng tìm kiếm sự hậu thuẫn từ các cường quốc bên ngoài để đối phó với các nước láng giềng. Kết quả là nước Mỹ không chỉ đánh mất sức mạnh tập thể mà còn mở đường cho các thế lực ngoại bang can thiệp, thao túng và chi phối vận mệnh của mình. Vì vậy, ông kết luận rằng chỉ có một Liên bang thống nhất mới có thể gìn giữ hòa bình, bảo vệ độc lập và ngăn chặn những hiểm họa đến từ bên ngoài.
—
Luận cương Liên bang số 5: Tiếp tục chủ đề trước: Về những nguy cơ từ sức mạnh và ảnh hưởng của các quốc gia bên ngoài
Đăng trên báo The Independent Journal
Tác giả: John Jay
Gửi nhân dân bang New York:
Trong bức thư gửi Quốc hội Scotland ngày 1 tháng 7 năm 1706, Nữ hoàng Anne đã đưa ra nhiều nhận định đáng suy ngẫm về tầm quan trọng của cuộc liên minh giữa Anh và Scotland khi ấy đang được hình thành. Tôi xin trích dẫn một vài đoạn để công chúng cùng tham khảo:
“Một sự liên hiệp trọn vẹn và bền vững sẽ là nền tảng vững chắc cho một nền hòa bình lâu dài. Nó sẽ bảo vệ tôn giáo, tự do và tài sản của các vị; xóa bỏ những hận thù trong nội bộ, cũng như những nghi kỵ và bất đồng giữa hai vương quốc chúng ta. Liên hiệp sẽ làm gia tăng sức mạnh, sự giàu có và thương mại của cả hai bên. Nhờ đó, toàn bộ hòn đảo, được gắn kết bằng sự đồng lòng và không còn lo ngại về những lợi ích khác biệt, sẽ đủ sức chống lại mọi kẻ thù.”
“Chúng tôi tha thiết mong các vị giữ thái độ bình tĩnh và đoàn kết trong vấn đề trọng đại này, để sự liên hiệp có thể đi đến thành công. Bởi đó là con đường duy nhất thực sự hiệu quả để bảo đảm hạnh phúc cho hiện tại và tương lai của chúng ta, đồng thời làm thất bại những âm mưu của cả kẻ thù của chúng tôi lẫn của các vị, những kẻ chắc chắn sẽ làm mọi cách để ngăn cản hoặc trì hoãn sự liên hiệp này.”
Trong bài trước, tôi đã chỉ ra rằng sự yếu kém và chia rẽ trong nội bộ sẽ tạo cơ hội cho các mối đe dọa từ bên ngoài; và không có gì giúp chúng ta tránh được những nguy cơ ấy tốt hơn sự đoàn kết, sức mạnh và một chính quyền vận hành hiệu quả.
Đây là một chủ đề rất rộng, và khó có thể trình bày hết chỉ trong một bài viết.
Lịch sử của Vương quốc Anh là lịch sử mà chúng ta hiểu rõ hơn bất kỳ quốc gia nào khác, và từ đó có thể rút ra nhiều bài học quý giá.
Chúng ta có thể học từ kinh nghiệm của họ mà không phải trả cái giá đắt như chính họ đã từng phải trả.
Lẽ thường cho thấy rằng người dân trên cùng một hòn đảo đáng lẽ phải thuộc về một quốc gia thống nhất. Thế nhưng, trong suốt nhiều thế kỷ, nước Anh lại bị chia thành ba vương quốc riêng biệt, và ba vương quốc ấy gần như liên tục rơi vào những cuộc xung đột và chiến tranh với nhau.
Mặc dù lợi ích của họ trong quan hệ với các quốc gia ở lục địa châu Âu về bản chất là giống nhau, nhưng bằng những mưu lược, chính sách và thủ đoạn của các nước ấy, sự nghi kỵ giữa ba vương quốc luôn bị khơi dậy và nuôi dưỡng.
Kết quả là, trong một thời gian rất dài, họ gây phiền toái và tổn hại cho nhau nhiều hơn là hỗ trợ và mang lại lợi ích cho nhau.
Nếu người dân Hoa Kỳ cũng chia thành ba hoặc bốn quốc gia độc lập, liệu điều tương tự sẽ không xảy ra hay sao?
Liệu những sự nghi kỵ tương tự sẽ không xuất hiện và tiếp tục bị nuôi dưỡng hay sao?
Thay vì gắn bó với nhau bằng tình cảm và không còn lo ngại về sự khác biệt trong lợi ích, thì lòng đố kỵ và sự nghi ngờ sẽ nhanh chóng làm xói mòn niềm tin và tình đoàn kết.
Khi đó, lợi ích cục bộ của từng liên minh sẽ trở thành mục tiêu duy nhất trong chính sách và hành động của họ, thay cho lợi ích chung của toàn thể nước Mỹ.
Và kết cục sẽ giống như phần lớn các quốc gia láng giềng khác trên thế giới: hoặc thường xuyên rơi vào tranh chấp và chiến tranh, hoặc luôn phải sống trong nỗi lo sợ rằng chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.
Ngay cả những người lạc quan nhất khi ủng hộ việc chia Hoa Kỳ thành ba hay bốn liên minh cũng khó có thể cho rằng các liên minh ấy sẽ duy trì được sự cân bằng về sức mạnh trong một thời gian dài, cho dù ban đầu có thể sắp xếp để chúng ngang bằng nhau.
Nhưng ngay cả nếu điều đó thực sự có thể thực hiện được lúc ban đầu, thì cũng không có cách nào bảo đảm rằng sự cân bằng ấy sẽ được duy trì mãi mãi.
Bên cạnh những điều kiện tự nhiên và địa phương vốn có thể khiến một khu vực phát triển mạnh hơn, trong khi khu vực khác chậm phát triển hơn, chúng ta còn phải tính đến một yếu tố khác: đó là sự khác biệt về năng lực quản trị.
Rất có thể một trong các liên minh sẽ có một chính quyền điều hành sáng suốt, hiệu quả và có tầm nhìn hơn các liên minh còn lại. Khi đó, ưu thế về chính sách và quản lý sẽ dần làm mất đi sự cân bằng ban đầu về sức mạnh và vị thế giữa họ.
Bởi lẽ, không thể giả định rằng tất cả các liên minh ấy sẽ luôn duy trì được cùng một mức độ khôn ngoan, thận trọng và nhìn xa trông rộng trong việc điều hành đất nước suốt nhiều năm liên tiếp.
Rồi sẽ đến lúc — dù vì nguyên nhân nào đi nữa, và điều đó sớm hay muộn cũng sẽ xảy ra — một trong các quốc gia hoặc liên minh ấy vươn lên vượt trội hơn hẳn các nước láng giềng về vị thế và ảnh hưởng chính trị.
Ngay khi điều đó xảy ra, các nước láng giềng sẽ bắt đầu nhìn quốc gia ấy bằng ánh mắt vừa đố kỵ vừa lo sợ.
Chính hai tâm lý ấy sẽ khiến họ sẵn sàng ủng hộ, nếu không muốn nói là chủ động thúc đẩy, bất kỳ hành động nào có thể làm suy giảm vị thế của quốc gia đang vươn lên.
Đồng thời, họ cũng sẽ tránh thực hiện bất cứ chính sách nào có thể góp phần thúc đẩy, hoặc thậm chí chỉ đơn giản là bảo vệ, sự thịnh vượng của quốc gia đó.
Quốc gia đang lớn mạnh ấy sẽ không mất nhiều thời gian để nhận ra những thái độ thiếu thiện chí từ các nước láng giềng.
Và một khi đã nhận ra điều đó, họ không chỉ dần đánh mất lòng tin vào các nước xung quanh, mà chính họ cũng sẽ bắt đầu nuôi dưỡng thái độ nghi ngờ và thiếu thiện cảm đối với những nước ấy.
Sự ngờ vực luôn sinh ra thêm sự ngờ vực. Không có gì làm xói mòn thiện chí và quan hệ hữu hảo nhanh hơn sự đố kỵ, những lời quy kết thiếu thiện chí và những nghi ngờ, dù được nói ra công khai hay chỉ ngầm ám chỉ.
Miền Bắc vốn là khu vực có nhiều lợi thế về sức mạnh. Xét đến nhiều điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh thực tế, rất có thể liên minh nằm ở cực Bắc trong số các liên minh được đề xuất sẽ sớm trở nên hùng mạnh hơn hẳn tất cả các liên minh còn lại.
Và một khi điều đó trở nên rõ ràng, thì “tổ ong phương Bắc” cũng sẽ gợi lên trong các vùng phía Nam của nước Mỹ chính những nỗi lo ngại và cảm xúc mà trước đây các dân tộc ở miền Nam châu Âu từng dành cho các dân tộc phương Bắc.
Cũng không phải là một dự đoán quá táo bạo nếu cho rằng những “đàn ong non” từ phương Bắc sẽ nhiều lần bị cám dỗ bay xuống những miền đất màu mỡ hơn, khí hậu ôn hòa hơn và giàu có hơn của các nước láng giềng ở phía Nam để tìm mật.
Những ai am hiểu lịch sử của các quốc gia từng bị chia cắt hoặc của các liên minh tương tự sẽ có đầy đủ cơ sở để lo ngại rằng, nếu nước Mỹ đi theo con đường ấy, thì các quốc gia mới hình thành sẽ chỉ là hàng xóm theo nghĩa cùng chung biên giới, chứ không phải là những người láng giềng thực sự.
Họ sẽ không yêu thương cũng chẳng tin tưởng lẫn nhau. Trái lại, họ sẽ liên tục bị cuốn vào những mâu thuẫn, nghi kỵ và những hành động gây tổn hại lẫn nhau.
Nói ngắn gọn, đó chính là viễn cảnh mà các cường quốc khác mong đợi: nước Mỹ bị chia rẽ thành nhiều quốc gia chỉ biết ganh đua và đối đầu lẫn nhau, thay vì hợp sức chống lại các mối đe dọa từ bên ngoài.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng những người cho rằng các liên minh riêng rẽ này có thể dễ dàng ký kết các hiệp ước quân sự để cùng tấn công hoặc cùng phòng thủ đã đánh giá vấn đề quá đơn giản.
Họ cho rằng những liên minh ấy sẽ có thể phối hợp ý chí, thống nhất lực lượng quân sự và huy động nguồn lực chung đủ để tạo nên một thế trận phòng thủ vững chắc trước các thế lực bên ngoài.
Nhưng giả định đó là một sai lầm.
Hãy nhìn lại lịch sử. Khi nước Anh và Tây Ban Nha còn bị chia thành nhiều quốc gia độc lập, đã bao giờ các quốc gia ấy thực sự đoàn kết thành một liên minh bền vững để cùng chống lại một kẻ thù bên ngoài hay chưa?
Các liên minh được đề xuất ở Hoa Kỳ cũng sẽ là những quốc gia độc lập, chứ không còn là các bang trong cùng một quốc gia.
Mỗi quốc gia sẽ phải tự mình xây dựng quan hệ thương mại với nước ngoài thông qua những hiệp ước riêng.
Mà vì sản phẩm và hàng hóa của mỗi vùng khác nhau, hướng đến những thị trường khác nhau, nên các hiệp ước thương mại ấy cũng tất yếu sẽ khác nhau về nội dung và mục tiêu.
Khi lợi ích thương mại khác nhau, lợi ích quốc gia cũng sẽ khác nhau. Và khi lợi ích quốc gia khác nhau, mức độ gắn bó về chính trị với các cường quốc bên ngoài cũng sẽ không giống nhau.
Vì thế, hoàn toàn có thể xảy ra — và rất có thể sẽ xảy ra — rằng quốc gia mà liên minh miền Nam đang phải tiến hành chiến tranh lại chính là quốc gia mà liên minh miền Bắc muốn duy trì quan hệ hòa bình và hữu nghị nhất.
Trong hoàn cảnh ấy, sẽ rất khó để các liên minh này thiết lập được một liên minh quân sự thực sự bền vững.
Và ngay cả nếu một liên minh như vậy được hình thành, thì cũng khó có thể kỳ vọng các bên sẽ luôn tuân thủ và thực hiện đầy đủ những cam kết của mình với sự chân thành và thiện chí tuyệt đối.
Không những vậy, nhiều khả năng ở châu Mỹ cũng sẽ diễn ra điều từng xảy ra ở châu Âu: các quốc gia láng giềng, vì theo đuổi những lợi ích đối lập và bị chi phối bởi sự nghi kỵ lẫn nhau, sẽ thường xuyên đứng về những phe khác nhau.
Với khoảng cách địa lý rất xa châu Âu, điều tự nhiên là các liên minh này sẽ lo ngại lẫn nhau nhiều hơn là lo ngại các cường quốc ở bên kia Đại Tây Dương.
Vì thế, mỗi liên minh sẽ có xu hướng tìm kiếm sự bảo vệ bằng cách liên minh với các cường quốc bên ngoài để đối phó với các liên minh láng giềng, thay vì đoàn kết với nhau để cùng chống lại những mối đe dọa từ nước ngoài.
Và ở đây, chúng ta cũng không nên quên một thực tế rất quan trọng: mời hạm đội nước ngoài vào cảng và quân đội nước ngoài vào lãnh thổ thì dễ, nhưng buộc họ rời đi lại là một việc hoàn toàn khác.
Lịch sử đã nhiều lần chứng minh điều đó.
Người La Mã, cũng như nhiều đế quốc khác, đã chinh phục không ít quốc gia dưới danh nghĩa đồng minh. Chính với danh nghĩa ấy, họ từng bước can thiệp và làm thay đổi thể chế của những quốc gia mà họ tuyên bố là đang bảo vệ.
Vì vậy, tôi xin để những người có đầu óc công bằng và sáng suốt tự đánh giá xem liệu việc chia nước Mỹ thành nhiều quốc gia có chủ quyền độc lập có thực sự giúp chúng ta tránh được sự thù địch và những can thiệp không thích đáng từ các cường quốc bên ngoài hay không.
PUBLIUS
