Bản tiếng Anh từ Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.
Nguyễn Huy Vũ dịch và giới thiệu.
Giới thiệu:
Trong Luận cương Liên bang số 4, John Jay tiếp tục phát triển lập luận về vai trò của một chính quyền quốc gia thống nhất trong việc bảo vệ Hoa Kỳ trước các mối đe dọa từ bên ngoài. Ông cho rằng chiến tranh không chỉ bắt nguồn từ những nguyên nhân chính đáng mà còn từ tham vọng, lợi ích và những cái cớ mà các quốc gia thường viện dẫn để biện minh cho việc sử dụng vũ lực. Khi Hoa Kỳ ngày càng phát triển về thương mại, hàng hải và sức mạnh quốc gia, các cường quốc châu Âu tất yếu sẽ coi nước Mỹ là một đối thủ cạnh tranh và tìm cách kiềm chế sự lớn mạnh đó.
Theo John Jay, cách tốt nhất để gìn giữ hòa bình không phải là chỉ tránh gây hấn, mà còn phải xây dựng một quốc gia đủ mạnh để không khuyến khích các nước khác gây chiến. Một chính quyền liên bang thống nhất có thể huy động nhân tài, điều phối nguồn lực, xây dựng quân đội và hải quân hiệu quả, đồng thời bảo vệ lợi ích chung của toàn Liên bang. Ngược lại, nếu Hoa Kỳ bị chia thành nhiều quốc gia hoặc liên minh nhỏ, họ sẽ khó phối hợp trong phòng thủ, dễ bị các cường quốc chia rẽ, thao túng và cuối cùng phải trả giá cho chính sự chia rẽ của mình.
—
Luận cương Liên bang số 4: Tiếp tục chủ đề trước: Về những nguy cơ từ sức mạnh và ảnh hưởng của các quốc gia bên ngoài
Đăng trên báo The Independent Journal
Tác giả: John Jay
Gửi nhân dân bang New York:
Trong bài trước, tôi đã trình bày nhiều lý do để chứng minh rằng sự đoàn kết dưới một chính quyền liên bang là cách tốt nhất để bảo đảm an ninh cho nhân dân trước những cuộc chiến tranh có thể nổ ra vì những nguyên nhân chính đáng do chính Hoa Kỳ gây ra đối với các quốc gia khác.
Những lập luận đó cho thấy rằng, dưới một chính quyền quốc gia thống nhất, các nguyên nhân dẫn đến chiến tranh không chỉ ít phát sinh hơn, mà khi xảy ra cũng sẽ được giải quyết và dàn xếp dễ dàng hơn so với trường hợp từng bang tự xử lý hoặc nếu đất nước bị chia thành nhiều liên minh nhỏ.
Tuy nhiên, an ninh của người dân Hoa Kỳ trước những mối đe dọa từ các thế lực bên ngoài không chỉ phụ thuộc vào việc chúng ta tránh gây ra những lý do chính đáng để các nước khác phát động chiến tranh.
Điều quan trọng không kém là chúng ta phải đặt mình vào một vị thế đủ vững mạnh để không khuyến khích hay tạo cơ hội cho các quốc gia khác có ý định gây hấn hoặc coi thường chúng ta.
Bởi lẽ, không phải mọi cuộc chiến tranh đều bắt đầu từ những nguyên nhân chính đáng. Trong thực tế, các quốc gia cũng thường viện ra những cái cớ để biện minh cho việc sử dụng vũ lực.
Thật đáng buồn, dù điều đó làm tổn hại đến phẩm giá của con người, nhưng thực tế là các quốc gia thường sẽ phát động chiến tranh bất cứ khi nào họ thấy có cơ hội thu được lợi ích từ đó.
Thậm chí, trong các chế độ quân chủ chuyên chế, các vị vua đôi khi còn phát động chiến tranh ngay cả khi đất nước của họ không thu được lợi ích gì. Họ làm vậy chỉ để thỏa mãn những mục đích cá nhân, như khát vọng lập chiến công, trả thù vì những xúc phạm đối với bản thân, tham vọng quyền lực, hoặc để thực hiện những thỏa thuận riêng nhằm củng cố và mở rộng quyền lực cho gia tộc hay phe cánh của mình.
Những động cơ ấy, cùng nhiều động cơ khác chỉ xuất phát từ ý muốn của người cầm quyền, thường khiến họ phát động những cuộc chiến không có chính nghĩa và cũng không phục vụ ý chí hay lợi ích của nhân dân.
Tuy nhiên, ngoài những động cơ gây chiến vừa nêu — vốn phổ biến hơn trong các chế độ quân chủ chuyên chế nhưng vẫn rất đáng để chúng ta lưu ý — còn có những nguyên nhân khác dẫn đến chiến tranh, không chỉ ảnh hưởng đến các vị vua mà đến mọi quốc gia. Khi xem xét kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy một số nguyên nhân trong đó xuất phát chính từ vị thế và hoàn cảnh của nước Mỹ.
Chẳng hạn, Hoa Kỳ cạnh tranh với Pháp và Anh trong ngành đánh bắt thủy sản. Chúng ta có thể cung cấp cá cho thị trường của họ với giá rẻ hơn chính các nhà sản xuất của họ, bất chấp mọi nỗ lực của các chính phủ ấy trong việc trợ cấp cho ngư dân trong nước hoặc áp thuế đối với cá nhập khẩu.
Tương tự, chúng ta cũng cạnh tranh với Pháp, Anh và phần lớn các quốc gia châu Âu khác trong lĩnh vực vận tải biển và thương mại hàng hải.
Sẽ là tự lừa dối mình nếu cho rằng họ sẽ vui mừng khi thấy ngành hàng hải của chúng ta phát triển.
Bởi lẽ, thương mại vận tải của Hoa Kỳ chỉ có thể mở rộng khi thị phần của họ bị thu hẹp ở một mức độ nào đó.
Vì vậy, xét từ lợi ích của họ, cũng như từ chính sách mà họ nhiều khả năng sẽ theo đuổi, các quốc gia ấy sẽ có xu hướng kiềm chế sự phát triển của ngành hàng hải Hoa Kỳ, chứ không phải khuyến khích nó.
Trong hoạt động thương mại với Trung Quốc và Ấn Độ, Hoa Kỳ cũng cạnh tranh với nhiều quốc gia khác. Sự phát triển của thương mại Hoa Kỳ cho phép chúng ta chia sẻ những lợi ích mà trước đây gần như chỉ các nước đó được hưởng. Đồng thời, chúng ta cũng có thể trực tiếp nhập khẩu nhiều loại hàng hóa mà trước kia phải mua lại từ họ.
Việc Hoa Kỳ ngày càng tự mình đảm nhận hoạt động vận tải biển bằng đội tàu của chính mình chắc chắn sẽ không làm hài lòng những quốc gia đang sở hữu các thuộc địa hoặc lãnh thổ trên, hoặc gần, lục địa này.
Bởi nhờ hàng hóa có chất lượng tốt, giá thành cạnh tranh, lại thêm lợi thế về vị trí địa lý, cùng với tinh thần năng động và tài năng của các thương nhân cũng như các nhà hàng hải Hoa Kỳ, chúng ta sẽ giành được một phần ngày càng lớn trong những lợi ích thương mại mà các vùng lãnh thổ ấy mang lại.
Điều đó rõ ràng không phù hợp với lợi ích hay chính sách mà các chính phủ của những quốc gia đó mong muốn theo đuổi.
Chẳng hạn, Tây Ban Nha tìm cách ngăn Hoa Kỳ sử dụng sông Mississippi ở phía nam, còn Anh lại không cho chúng ta tiếp cận sông Saint Lawrence ở phía bắc.
Không chỉ vậy, cả hai nước đều không muốn những tuyến đường thủy nằm giữa lãnh thổ của họ và Hoa Kỳ trở thành con đường thuận lợi cho giao thương và đi lại giữa đôi bên.
Từ những ví dụ trên, cũng như nhiều nguyên nhân tương tự khác — mà nếu xét thấy thận trọng thì còn có thể phân tích chi tiết hơn nữa — chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng các quốc gia khác sẽ dần nảy sinh tâm lý nghi kỵ và lo ngại trước sự phát triển của Hoa Kỳ.
Vì vậy, sẽ là không thực tế nếu mong đợi họ có thể bình thản và thờ ơ chứng kiến một nước Mỹ ngày càng đoàn kết hơn, hùng mạnh hơn và có ảnh hưởng lớn hơn, cả trên đất liền lẫn trên biển.
Người dân Hoa Kỳ hiểu rõ rằng những nguyên nhân có thể dẫn đến chiến tranh không chỉ xuất phát từ các yếu tố vừa nêu, mà còn có thể nảy sinh từ nhiều hoàn cảnh khác hiện chưa bộc lộ rõ.
Và họ cũng hiểu rằng, mỗi khi xuất hiện thời cơ thuận lợi để phát động chiến tranh, các quốc gia khác sẽ luôn tìm được những cái cớ nhằm biện minh và hợp thức hóa hành động của mình.
Chính vì vậy, họ đã sáng suốt nhận ra rằng chỉ có sự đoàn kết và một chính quyền quốc gia vững mạnh mới có thể đưa đất nước vào một vị thế mà, thay vì khuyến khích các nước khác gây chiến, sẽ khiến họ phải dè chừng và từ bỏ ý định đó.
Vị thế ấy trước hết được tạo nên bởi một nền quốc phòng vững mạnh, và điều đó tất yếu phụ thuộc vào chất lượng của chính quyền, sức mạnh quân sự cũng như các nguồn lực của quốc gia.
Vì an ninh của cả quốc gia là lợi ích chung của toàn dân, và không thể được bảo đảm nếu thiếu một chính quyền, dù đó là một, nhiều hay rất nhiều chính quyền, nên chúng ta hãy cùng xem xét liệu một chính quyền quốc gia thống nhất và vận hành hiệu quả có phải là mô hình đủ năng lực để bảo vệ đất nước tốt hơn bất kỳ hình thức tổ chức nào khác hay không.
Một chính quyền thống nhất có thể quy tụ và phát huy tài năng cũng như kinh nghiệm của những con người ưu tú nhất, bất kể họ sinh sống ở đâu trong Liên bang.
Chính quyền đó có thể điều hành đất nước theo một đường lối và chính sách thống nhất. Nó có thể phối hợp, gắn kết và bảo vệ mọi bang, đồng thời bảo đảm rằng mọi nơi đều được hưởng lợi từ tầm nhìn và những biện pháp chuẩn bị của quốc gia.
Khi ký kết các hiệp ước với nước ngoài, chính quyền quốc gia sẽ đặt lợi ích chung của toàn Liên bang lên hàng đầu, đồng thời xem lợi ích của từng bang là một phần gắn bó hữu cơ với lợi ích chung ấy.
Khi một bang bị đe dọa, chính quyền quốc gia có thể huy động sức mạnh và nguồn lực của toàn Liên bang để bảo vệ bang đó. Điều này chắc chắn sẽ được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả hơn nhiều so với việc để từng bang hoặc từng liên minh nhỏ tự xoay xở, bởi họ thiếu sự phối hợp và một hệ thống chỉ huy thống nhất.
Chính quyền quốc gia cũng có thể tổ chức lực lượng dân quân theo một hệ thống huấn luyện thống nhất, đồng thời đặt các sĩ quan dưới một hệ thống chỉ huy rõ ràng, trực thuộc người đứng đầu cơ quan hành pháp.
Nhờ đó, các lực lượng dân quân của từng bang sẽ được hợp nhất thành một lực lượng thống nhất và có sức chiến đấu cao hơn nhiều so với trường hợp bị chia thành mười ba lực lượng riêng rẽ, hoặc ba hay bốn liên minh quân sự độc lập.
Hãy thử hình dung lực lượng dân quân của Vương quốc Anh sẽ ra sao nếu quân đội Anh chỉ tuân theo chính quyền Anh, quân đội Scotland chỉ tuân theo chính quyền Scotland, còn quân đội xứ Wales chỉ tuân theo chính quyền xứ Wales.
Nếu đất nước bị xâm lược, liệu ba chính quyền ấy — ngay cả khi họ có thể thống nhất được với nhau — có thể phối hợp toàn bộ lực lượng của mình để chống lại kẻ thù hiệu quả bằng một chính quyền thống nhất của Vương quốc Anh hay không?
Chúng ta thường nghe nhắc đến sức mạnh của hải quân Anh. Và nếu đủ sáng suốt, sẽ đến lúc hải quân Hoa Kỳ cũng trở thành một lực lượng khiến các quốc gia khác phải dè chừng.
Nhưng nếu nước Anh không có một chính quyền quốc gia thống nhất để xây dựng và điều hành chính sách hàng hải, biến ngành hàng hải thành nơi đào tạo và cung cấp đội ngũ thủy thủ cho đất nước; nếu không có một chính quyền thống nhất biết huy động mọi nguồn lực và vật tư của quốc gia để xây dựng hạm đội, thì sức mạnh và uy danh của hải quân Anh đã không bao giờ được cả thế giới biết đến.
Hãy thử hình dung nước Anh, Scotland, xứ Wales và Ireland đều có ngành hàng hải và hải quân riêng, đồng thời mỗi nơi lại nằm dưới một chính quyền độc lập.
Không khó để thấy rằng chỉ trong một thời gian ngắn, hải quân của từng nước sẽ dần suy yếu và trở nên nhỏ bé nếu so với sức mạnh mà họ từng có khi còn là một quốc gia thống nhất.
Bây giờ hãy áp dụng điều đó vào chính trường hợp của Hoa Kỳ.
Nếu nước Mỹ bị chia cắt thành mười ba quốc gia độc lập, hoặc nếu muốn thì thành ba hay bốn liên minh riêng biệt, liệu mỗi quốc gia ấy có thể xây dựng và duy trì được những đội quân lớn đến mức nào? Và họ còn có thể hy vọng xây dựng được một hạm đội hùng mạnh hay không?
Nếu một quốc gia bị tấn công, liệu các quốc gia còn lại có lập tức đến cứu viện, sẵn sàng bỏ ra máu xương và tiền của để bảo vệ nước láng giềng ấy không?
Hay sẽ có nguy cơ họ bị những lời hứa hẹn khéo léo của kẻ thù thuyết phục để giữ thái độ trung lập? Hoặc vì quá khao khát hòa bình mà họ không muốn đánh đổi sự yên ổn và an toàn trước mắt của mình để bảo vệ một nước láng giềng mà trước đó họ vốn từng ganh đua, thậm chí không ngại khi thấy vị thế của nước ấy bị suy yếu?
Một cách hành xử như vậy có thể không phải là khôn ngoan, nhưng lại hoàn toàn phù hợp với bản tính thường thấy của con người.
Lịch sử các thành bang Hy Lạp, cũng như nhiều quốc gia khác, có rất nhiều ví dụ như vậy. Và không có lý do gì để tin rằng, nếu hoàn cảnh tương tự lặp lại, lịch sử sẽ không lặp lại một lần nữa.
Nhưng giả sử các quốc gia hay liên minh còn lại đều sẵn sàng giúp đỡ quốc gia bị xâm lược, thì sự giúp đỡ ấy sẽ được tổ chức như thế nào? Bao giờ mới được triển khai? Mỗi bên sẽ đóng góp bao nhiêu quân lính và tiền bạc?
Ai sẽ là người chỉ huy lực lượng liên quân? Và người đó sẽ nhận mệnh lệnh từ chính quyền nào?
Ai sẽ có quyền đàm phán và quyết định các điều khoản hòa bình? Nếu giữa các bên nảy sinh bất đồng, thì ai sẽ là người đứng ra phân xử và buộc tất cả phải chấp nhận phán quyết?
Một mô hình như vậy tất yếu sẽ kéo theo vô số khó khăn và bất tiện.
Trong khi đó, một chính quyền quốc gia thống nhất, luôn quan tâm đến lợi ích chung của toàn dân, đồng thời có khả năng tập hợp và điều phối sức mạnh cũng như nguồn lực của cả đất nước, sẽ không gặp phải những trở ngại ấy và chắc chắn sẽ bảo đảm an ninh cho nhân dân hiệu quả hơn rất nhiều.
Dù nước Mỹ lựa chọn con đường nào — tiếp tục đoàn kết dưới một chính quyền quốc gia thống nhất hay chia thành nhiều liên minh độc lập — thì có một điều chắc chắn là các quốc gia khác sẽ nhìn nhận chúng ta đúng như thực trạng của mình và sẽ đối xử với chúng ta trên cơ sở đó.
Nếu họ thấy rằng Hoa Kỳ có một chính quyền quốc gia hiệu quả và được điều hành tốt; hoạt động thương mại được quản lý khôn ngoan; lực lượng dân quân được tổ chức và huấn luyện bài bản; các nguồn lực và tài chính quốc gia được quản lý thận trọng; uy tín tín dụng được khôi phục; người dân được sống trong tự do, hài lòng và đoàn kết, thì họ sẽ có xu hướng tìm cách xây dựng quan hệ hữu nghị với chúng ta hơn là khiêu khích hay đối đầu.
Ngược lại, nếu họ thấy chúng ta không có một chính quyền đủ năng lực để điều hành đất nước, để mặc mỗi bang hành động theo điều mà những người cầm quyền ở bang đó cho là có lợi; hoặc nếu họ thấy Hoa Kỳ bị chia thành ba hay bốn nước cộng hòa hoặc liên minh độc lập, thường xuyên bất hòa với nhau — một bên ngả theo Anh, một bên ngả theo Pháp, một bên khác lại thân Tây Ban Nha, và ba cường quốc ấy còn lợi dụng sự chia rẽ đó để thao túng lẫn nhau — thì trong mắt họ, nước Mỹ sẽ trở nên yếu ớt và đáng thương biết bao!
Khi ấy, chúng ta không chỉ phải đối mặt với sự coi thường của các cường quốc, mà còn rất dễ trở thành đối tượng để họ áp bức và xâm phạm.
Rồi chẳng bao lâu sau, bài học đắt giá mà chúng ta phải trả sẽ một lần nữa chứng minh một chân lý cũ: mỗi khi một dân tộc hay một gia đình tự chia rẽ, thì chính họ là những người phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất.
PUBLIUS
