Bản tiếng Anh từ Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.
Nguyễn Huy Vũ dịch và giới thiệu.
Giới thiệu:
Trong Luận cương Liên bang số 9, Alexander Hamilton lập luận rằng một Liên bang rộng lớn không những không đe dọa nền cộng hòa mà còn là phương tiện quan trọng để bảo vệ hòa bình, tự do và sự ổn định trước phe phái và các cuộc nổi dậy trong nước. Từ lịch sử bất ổn của các nước cộng hòa nhỏ ở Hy Lạp và Ý, Hamilton chỉ ra những khiếm khuyết của các mô hình cộng hòa cổ đại và lập luận rằng các thiết chế hiện đại như phân quyền, cân bằng và kiểm soát quyền lực, đại diện dân cử và một Liên bang có quy mô đủ lớn có thể khắc phục những hạn chế ấy.
Đặc biệt, Hamilton phản bác cách viện dẫn Montesquieu để chống lại một Liên bang rộng lớn, cho rằng chính Montesquieu đã nhìn nhận Cộng hòa Liên bang như một mô hình có thể kết hợp những ưu điểm của chính thể cộng hòa với sức mạnh của một quốc gia lớn. Từ đó, ông bảo vệ quan điểm rằng Hiến pháp mới không xóa bỏ các bang, mà xây dựng một chính quyền liên bang trong đó các bang vẫn giữ những quyền lực quan trọng của mình, đồng thời cùng nhau tạo nên một chính thể đủ mạnh để bảo vệ cả tự do bên trong lẫn an ninh bên ngoài.
—
Luận cương Liên bang số 9: Tính hữu ích của Liên bang trong việc bảo vệ chống lại phe phái và các cuộc nổi dậy trong nước
Đăng trên báo The Independent Journal
Tác giả: Alexander Hamilton
Gửi nhân dân bang New York:
Một Liên bang vững chắc sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hòa bình và tự do của các bang, bởi nó tạo thành một thành lũy chống lại những phe phái và các cuộc nổi dậy trong nước.
Không thể đọc lịch sử của những nước cộng hòa nhỏ bé ở Hy Lạp và Ý mà không kinh hoàng trước những xung đột triền miên và những cuộc cách mạng nối tiếp nhau, khiến các quốc gia ấy luôn chao đảo giữa hai thái cực chuyên chế và vô chính phủ.
Nếu đôi khi chúng ta bắt gặp những khoảng thời gian yên bình, thì đó cũng chỉ là những quãng lặng ngắn ngủi, tương phản với những cơn bão dữ dội sắp sửa ập đến.
Nếu thỉnh thoảng những khoảng thời gian hạnh phúc mở ra trước mắt, chúng ta lại chỉ có thể nhìn chúng với một niềm tiếc nuối, bởi biết rằng những khung cảnh tươi đẹp ấy chẳng bao lâu nữa sẽ bị những con sóng dữ dội của nổi loạn và cuồng nộ phe phái nhấn chìm.
Nếu đôi khi những tia sáng vinh quang xuyên qua màn đêm u tối, khiến chúng ta choáng ngợp bởi vẻ rực rỡ thoáng qua, thì đồng thời, chúng cũng khiến chúng ta thêm tiếc nuối khi thấy những tệ hại của chính quyền đã làm chệch hướng và làm lu mờ ánh sáng của những tài năng xuất chúng cùng những phẩm chất cao quý — những tài năng và phẩm chất mà những vùng đất may mắn sản sinh ra họ vốn từ lâu vẫn được ca ngợi một cách xứng đáng.
Từ những rối ren đã làm hoen ố lịch sử của các nước cộng hòa ấy, những người ủng hộ chế độ chuyên chế đã rút ra những lập luận không chỉ để chống lại thể chế cộng hòa, mà còn để phủ nhận chính những nguyên tắc nền tảng của tự do dân sự.
Họ lên án mọi chính thể tự do, cho rằng tự do không thể tồn tại cùng với trật tự xã hội, đồng thời hả hê một cách ác ý trước những người ủng hộ và bảo vệ nó.
May mắn thay cho nhân loại, những công trình vĩ đại được dựng xây trên nền tảng tự do và đã thịnh vượng qua nhiều thế kỷ, trong một vài trường hợp huy hoàng, đã bác bỏ bằng chính sự tồn tại của mình những lập luận bi quan và ngụy biện ấy.
Và tôi tin rằng nước Mỹ sẽ trở thành nền móng rộng lớn và vững chắc cho những công trình khác cũng không kém phần tráng lệ, những công trình sẽ trường tồn như những minh chứng hùng hồn bác bỏ những quan niệm sai lầm đó.
Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng bức tranh mà họ vẽ về chính thể cộng hòa thực chất là sự phản ánh khá trung thực của chính những mô hình mà họ lấy làm cơ sở để phán xét.
Nếu không thể xây dựng được một mô hình chính thể hoàn thiện hơn, thì những người giác ngộ và hết lòng bảo vệ tự do hẳn đã buộc phải từ bỏ việc bênh vực chính thể cộng hòa, bởi họ sẽ không thể đưa ra một cơ sở đủ vững chắc để bảo vệ nó.
Tuy nhiên, khoa học chính trị, cũng như phần lớn các ngành khoa học khác, đã có những bước tiến vượt bậc. Ngày nay, chúng ta đã hiểu khá rõ hiệu quả của nhiều nguyên tắc mà người xưa hoặc hoàn toàn chưa biết đến, hoặc chỉ mới nhận thức một cách chưa đầy đủ.
Đó là việc phân chia quyền lực một cách có hệ thống thành những cơ quan riêng biệt; thiết lập các cơ chế cân bằng và kiểm soát trong hoạt động lập pháp; thành lập các tòa án với các thẩm phán được giữ chức vụ chừng nào họ còn thực hiện đúng chức trách; và trao quyền đại diện cho nhân dân trong cơ quan lập pháp thông qua những đại biểu do chính họ bầu ra.
Những nguyên tắc này hoặc hoàn toàn là những phát hiện mới, hoặc chỉ thực sự đạt được những bước tiến quan trọng hướng tới sự hoàn thiện trong thời hiện đại.
Chúng là những phương tiện — và là những phương tiện đầy sức mạnh — giúp duy trì những ưu điểm của chính thể cộng hòa, đồng thời giảm thiểu hoặc tránh được những khiếm khuyết của nó.
Tuy nhiên, tôi xin được bổ sung vào danh sách những yếu tố có thể góp phần hoàn thiện các mô hình chính quyền dân chủ một yếu tố nữa, dù đối với một số người, điều này có thể còn khá mới mẻ.
Đó là việc mở rộng phạm vi hoạt động của các mô hình chính quyền ấy — hoặc bằng cách mở rộng quy mô của một bang riêng lẻ, hoặc bằng cách hợp nhất nhiều bang nhỏ thành một Liên bang lớn.
Chính trường hợp thứ hai là vấn đề trực tiếp liên quan đến điều chúng ta đang xem xét ở đây.
Tuy nhiên, việc xem xét nguyên tắc này trong phạm vi một bang riêng lẻ cũng sẽ rất hữu ích; tôi sẽ trở lại với vấn đề đó ở một phần khác.
Trên thực tế, tính hữu ích của một Liên bang — không chỉ trong việc ngăn chặn các phe phái và bảo đảm sự yên ổn trong nội bộ các bang, mà còn trong việc gia tăng sức mạnh và khả năng bảo vệ họ trước những mối đe dọa từ bên ngoài — hoàn toàn không phải là một ý tưởng mới.
Nguyên tắc này đã từng được áp dụng ở nhiều quốc gia, trong nhiều thời kỳ khác nhau, và đã nhận được sự tán thành của những học giả uy tín nhất khi bàn về khoa học chính trị.
Những người phản đối mô hình được đề xuất đã đặc biệt tích cực trích dẫn và phổ biến những nhận định của Montesquieu về sự cần thiết phải có một lãnh thổ tương đối nhỏ đối với một chính thể cộng hòa.
Tuy nhiên, dường như họ đã không biết đến những quan điểm khác của chính Montesquieu được trình bày ở một phần khác trong tác phẩm của ông, hoặc chưa xem xét đến những hệ quả tất yếu của chính nguyên tắc mà họ đã dễ dàng chấp nhận và nhiệt tình ủng hộ.
Khi Montesquieu cho rằng các nước cộng hòa cần có lãnh thổ tương đối nhỏ, thì những khuôn mẫu mà ông dựa vào thực tế có quy mô nhỏ hơn rất nhiều so với lãnh thổ của hầu hết các bang ở đây. Virginia, Massachusetts, Pennsylvania, New York, North Carolina hay Georgia hoàn toàn không thể so sánh với những mô hình mà ông đã dùng làm cơ sở cho lập luận của mình và được đề cập trong những mô tả ấy.
Vì vậy, nếu lấy quan điểm của ông về vấn đề này làm tiêu chuẩn tuyệt đối để xác định điều gì là đúng đắn, chúng ta sẽ bị đẩy vào một trong hai lựa chọn: hoặc lập tức tìm đến vòng tay của chế độ quân chủ, hoặc chia đất nước thành vô số những nước cộng hòa nhỏ bé, luôn ganh ghét, xung đột và náo loạn lẫn nhau — những mảnh đất khốn khổ nuôi dưỡng sự bất hòa không ngừng và trở thành đối tượng của sự thương hại hoặc khinh miệt từ khắp nơi.
Một số tác giả đứng về phía phản đối mô hình Liên bang dường như cũng nhận ra tình thế tiến thoái lưỡng nan này, thậm chí còn mạnh dạn gợi ý rằng việc chia tách những bang lớn thành nhiều bang nhỏ hơn là một điều đáng mong muốn. Một chính sách sai lầm đến mức mê muội như vậy, một giải pháp tuyệt vọng như vậy, có thể đáp ứng tham vọng của những kẻ chỉ có thể mở rộng ảnh hưởng trong những vòng tròn nhỏ hẹp của các mối quan hệ và mưu đồ cá nhân, nhờ việc tạo ra thêm vô số chức vụ vụn vặt. Nhưng nó tuyệt nhiên không thể góp phần làm nên sự hùng mạnh hay hạnh phúc của nhân dân Hoa Kỳ.
Như đã đề cập, việc xem xét bản thân nguyên tắc này sẽ được dành cho một phần khác. Ở đây, chỉ cần lưu ý rằng, theo đúng quan điểm của tác giả được những người phản đối viện dẫn một cách mạnh mẽ nhất, nguyên tắc ấy chỉ đòi hỏi phải thu hẹp quy mô của những thành viên lớn hơn trong Liên bang, chứ không hề phản đối việc tất cả các bang vẫn được hợp nhất trong một chính quyền liên bang duy nhất. Và đó mới chính là vấn đề thực sự mà chúng ta cần tập trung xem xét trong cuộc tranh luận hiện nay.
Quan điểm của Montesquieu hoàn toàn không những không đối lập với việc thống nhất các bang thành một Liên bang chung, mà trái lại, ông còn trực tiếp đề cập đến mô hình một CỘNG HÒA LIÊN BANG như một giải pháp nhằm mở rộng phạm vi của chính thể dân chủ và dung hòa những ưu điểm của chế độ quân chủ với những ưu điểm của chính thể cộng hòa.
“Rất có thể,” ông viết, “cuối cùng nhân loại đã buộc phải sống mãi dưới sự cai trị của một cá nhân duy nhất, nếu họ không tìm ra được một hình thức chính thể vừa có đầy đủ những ưu điểm nội tại của một chính thể cộng hòa, vừa có được sức mạnh đối ngoại của một chính thể quân chủ. Tôi muốn nói đến một CỘNG HÒA LIÊN BANG.”
“Hình thức chính thể này được hình thành thông qua một thỏa ước, theo đó nhiều quốc gia nhỏ hơn đồng ý trở thành thành viên của một quốc gia lớn hơn mà họ cùng nhau thiết lập. Đó là một dạng liên kết giữa nhiều cộng đồng để hình thành nên một cộng đồng mới; và cộng đồng mới ấy có thể tiếp tục mở rộng thông qua việc kết nạp thêm các thành viên, cho đến khi đạt được mức độ sức mạnh đủ để bảo đảm an ninh cho toàn thể liên minh.”
“Một nền cộng hòa theo mô hình này, đủ sức chống lại các thế lực bên ngoài, có thể tự duy trì mà không bị suy thoái bởi những sự tha hóa từ bên trong. Chính thể chế này giúp loại bỏ mọi dạng bất cập và rối ren.”
“Nếu một thành viên trong Liên bang tìm cách tiếm đoạt quyền lực tối cao, thì khó có thể cho rằng người đó có được mức độ quyền lực và ảnh hưởng ngang nhau ở tất cả các bang thành viên. Nếu người đó có ảnh hưởng quá lớn tại một bang, điều đó sẽ lập tức khiến các bang còn lại cảnh giác. Nếu người đó khuất phục được một bộ phận các bang, thì những bang vẫn còn tự do có thể sử dụng lực lượng độc lập với những lực lượng mà kẻ tiếm quyền đã kiểm soát để chống lại hắn và đánh bại hắn trước khi hắn kịp củng cố quyền lực.”
“Nếu một cuộc nổi dậy của quần chúng xảy ra tại một trong các bang thành viên của Liên bang, những bang còn lại có thể phối hợp để dập tắt nó. Nếu những hành vi lạm quyền bắt đầu xuất hiện ở một bộ phận, thì những bộ phận vẫn còn lành mạnh có thể tiến hành sửa chữa và khắc phục. Một bang có thể bị suy yếu hoặc sụp đổ ở một phía mà không nhất thiết kéo theo sự sụp đổ ở phía bên kia; ngay cả khi Liên bang bị tan rã, các bang thành viên vẫn có thể giữ được chủ quyền của mình.”
“Vì chính thể này được cấu thành từ những nước cộng hòa nhỏ, nên nó được hưởng những lợi ích về đời sống nội bộ của từng nước; còn xét về vị thế đối ngoại, nhờ sự liên kết giữa các nước, nó có được tất cả những lợi thế của các nền quân chủ rộng lớn.”
Tôi cho rằng cần trích dẫn khá đầy đủ những đoạn văn quan trọng này, bởi chúng trình bày một cách sáng rõ và cô đọng những lập luận chủ yếu ủng hộ Liên bang, đồng thời giúp xóa bỏ hiệu quả những nhận thức sai lệch mà việc viện dẫn không đúng những phần khác trong tác phẩm của Montesquieu có thể đã gây ra.
Đồng thời, những đoạn trích này có mối liên hệ trực tiếp với mục đích chính của bài viết này: làm rõ rằng Liên bang có khả năng kiềm chế các phe phái và ngăn chặn những cuộc nổi dậy trong nội bộ.
Người ta thường phân biệt giữa một LIÊN MINH và một SỰ HỢP NHẤT các bang, nhưng sự phân biệt này thực ra không hoàn toàn chính xác.
Theo quan điểm đó, đặc điểm cơ bản của một Liên minh là chính quyền trung ương chỉ có quyền đối với các bang với tư cách là những đơn vị tập thể, chứ không trực tiếp có thẩm quyền đối với từng người dân của các bang.
Theo cách hiểu này, chính quyền trung ương không nên can thiệp vào các vấn đề quản lý nội bộ của từng bang. Người ta cũng cho rằng các bang thành viên phải có quyền biểu quyết ngang nhau là một đặc điểm quan trọng của chính thể liên minh.
Tuy nhiên, những quan điểm trên chủ yếu dựa vào những giả định hơn là những nguyên tắc hay tiền lệ lịch sử rõ ràng. Đúng là nhiều chính thể liên minh trong quá khứ đã hoạt động theo cách như vậy, nhưng hầu hết đều có những ngoại lệ đáng kể. Điều đó cho thấy không thể coi những đặc điểm trên là những quy tắc tuyệt đối của một chính thể liên minh.
Hơn nữa, trong phần phân tích tiếp theo, tôi sẽ chỉ ra rằng chính việc quá hạn chế quyền lực của chính quyền trung ương theo nguyên tắc này đã khiến các chính thể liên minh rơi vào tình trạng rối loạn và bất lực mà gần như không thể khắc phục.
Khái niệm về một CỘNG HÒA LIÊN BANG dường như khá đơn giản: đó là “sự liên kết của nhiều cộng đồng”, hay nói cách khác, là sự liên kết từ hai bang trở lên để hình thành một quốc gia thống nhất.
Phạm vi, cách thức tổ chức và mục đích của quyền lực liên bang chỉ là những vấn đề có thể được điều chỉnh tùy theo hoàn cảnh và sự lựa chọn của các bên.
Chừng nào cơ cấu tổ chức riêng của các bang thành viên vẫn được duy trì; chừng nào các bang vẫn tồn tại như những đơn vị có hiến định riêng để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi địa phương; và dù quyền lực của họ phải hoàn toàn phục tùng quyền lực chung của Liên bang, thì về cả thực tế lẫn lý thuyết, đó vẫn là một sự liên kết giữa các bang, tức một Liên bang.
Bản Hiến pháp được đề xuất không những không xóa bỏ chính quyền của các bang, mà còn biến họ thành những bộ phận cấu thành của chủ quyền quốc gia: các bang được trực tiếp đại diện tại Thượng viện, đồng thời vẫn giữ trong tay một số quyền lực có tính chất chủ quyền, độc lập và hết sức quan trọng.
Xét theo cách hiểu hợp lý và đầy đủ nhất của những khái niệm này, điều đó hoàn toàn phù hợp với bản chất của một chính quyền liên bang.
Trong Liên bang Lycia, gồm hai mươi ba thành bang hoặc nước cộng hòa, những thành bang lớn nhất có ba phiếu trong Hội đồng chung, các thành bang có quy mô trung bình có hai phiếu, còn những thành bang nhỏ nhất có một phiếu.
Hội đồng chung có quyền bổ nhiệm tất cả các thẩm phán và quan chức của từng thành bang. Đây chắc chắn là một trong những hình thức can thiệp sâu nhất vào công việc quản trị nội bộ của các thành bang; bởi nếu có điều gì được xem là thuộc về thẩm quyền riêng của địa phương, thì đó chính là quyền tự mình bổ nhiệm các quan chức của mình.
Tuy nhiên, khi nói về mô hình liên kết này, Montesquieu lại nhận xét: “Nếu phải đưa ra một khuôn mẫu về một nền Cộng hòa Liên bang ưu việt, thì đó chính là Liên bang Lycia.”
Qua đó có thể thấy rõ rằng những sự phân biệt mà những người phản đối Hiến pháp nhấn mạnh hoàn toàn không thuộc về quan niệm của chính Montesquieu. Từ đó, có thể thấy rằng những sự phân biệt ấy chẳng qua chỉ là những cách diễn giải mới mẻ được dựng lên trên một nền tảng lý luận sai lầm.
PUBLIUS
