Phong Trào Duy Tân

Luận cương Liên bang số 7: Tiếp tục chủ đề trước: Về những nguy cơ từ sự bất hòa giữa các bang

Bản tiếng Anh từ Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.

Nguyễn Huy Vũ dịch và giới thiệu.

Giới thiệu: 

Trong Luận cương Liên bang số 7, Alexander Hamilton tiếp tục phản bác quan điểm cho rằng các bang sau khi tách khỏi Liên bang vẫn có thể chung sống hòa bình. Ông lập luận rằng ngay trong thực tế lúc bấy giờ đã tồn tại nhiều nguyên nhân dễ dẫn đến xung đột, như tranh chấp lãnh thổ, cạnh tranh thương mại, bất đồng trong việc phân chia nợ công và những khác biệt về chính sách giữa các bang. Hamilton cảnh báo rằng nếu không còn một chính quyền liên bang đủ mạnh để đứng ra phân xử và điều hòa lợi ích, những mâu thuẫn ấy rất có thể sẽ leo thang thành chiến tranh, đồng thời tạo cơ hội cho các cường quốc bên ngoài can thiệp và áp dụng chính sách “chia để trị” đối với nước Mỹ. Qua đó, ông một lần nữa khẳng định rằng chỉ có một Liên bang thống nhất mới có thể duy trì hòa bình, bảo vệ nền độc lập và gìn giữ lợi ích chung của toàn quốc gia.

Luận cương Liên bang số 7: Tiếp tục chủ đề trước: Về những nguy cơ từ sự bất hòa giữa các bang

Đăng trên báo The Independent Journal

Tác giả: Alexander Hamilton

Gửi nhân dân bang New York:

Đôi khi có người, với vẻ đầy tự tin như thể đã nắm chắc phần thắng trong tranh luận, đặt câu hỏi rằng: Nếu các bang tách khỏi Liên bang, thì họ có lý do gì để gây chiến với nhau?

Chỉ cần trả lời rằng: chính những lý do đã nhiều lần khiến mọi quốc gia trên thế giới chìm trong chiến tranh và máu lửa, thì cũng đã đủ để bác bỏ câu hỏi ấy.

Nhưng đáng tiếc cho chúng ta, trường hợp của Hoa Kỳ còn có một câu trả lời cụ thể hơn thế.

Ngay trước mắt chúng ta đã tồn tại nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến bất đồng giữa các bang.

Ngay cả khi vẫn còn chịu sự ràng buộc của Hiến pháp Liên bang hiện nay, chúng ta cũng đã có đủ kinh nghiệm để thấy những nguyên nhân ấy có thể gây ra những hậu quả như thế nào.

Vì vậy, không khó để hình dung điều gì sẽ xảy ra nếu một ngày những ràng buộc đó không còn tồn tại nữa.

Tranh chấp lãnh thổ từ lâu đã được xem là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến sự thù địch giữa các quốc gia.

Có lẽ phần lớn những cuộc chiến tranh từng tàn phá thế giới đều bắt nguồn từ nguyên nhân này.

Và đối với Hoa Kỳ, nguy cơ ấy cũng tồn tại một cách rất rõ ràng.

Trong lãnh thổ của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ vẫn còn một vùng đất rộng lớn chưa được phân chia và định đoạt.

Hiện nay, giữa một số bang vẫn còn tồn tại những yêu sách chồng chéo và chưa được giải quyết dứt điểm. Nếu Liên bang tan rã, những tranh chấp tương tự chắc chắn sẽ nảy sinh giữa tất cả các bang.

Ai cũng biết rằng trước đây các bang từng tranh luận gay gắt về quyền sở hữu những vùng đất chưa được cấp phát vào thời điểm Cách mạng Hoa Kỳ bùng nổ, thường được gọi là đất của Vương quyền (Crown Lands).

Những bang mà các vùng đất ấy từng nằm trong phạm vi lãnh thổ thuộc địa của mình thì cho rằng chúng là tài sản của chính bang đó.

Trong khi đó, các bang khác lại lập luận rằng quyền sở hữu những vùng đất vốn thuộc Vương quyền phải được chuyển giao cho toàn Liên bang.

Lập luận này đặc biệt được áp dụng đối với phần lớn vùng lãnh thổ phía Tây — nơi trước đây thuộc quyền tài phán của Quốc vương Anh, hoặc do quân đội Anh trực tiếp kiểm soát, hoặc do các bộ lạc bản địa quy phục Vương quốc Anh, cho đến khi Anh từ bỏ quyền kiểm soát theo Hiệp ước Hòa bình.

Theo quan điểm ấy, những vùng đất này, trong mọi trường hợp, đều là tài sản mà Liên bang giành được thông qua một hiệp ước với một quốc gia nước ngoài.

Quốc hội Liên bang đã hành động rất khôn ngoan khi tìm cách xoa dịu cuộc tranh chấp này bằng cách thuyết phục các bang nhượng lại những vùng đất đó cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ để phục vụ lợi ích chung của toàn Liên bang.

Chính sách ấy đã đạt được những kết quả đáng kể và, nếu Liên bang tiếp tục được duy trì, có cơ sở để tin rằng tranh chấp này sẽ sớm được giải quyết trong hòa bình.

Tuy nhiên, nếu Liên bang tan rã, những tranh chấp cũ sẽ lập tức bùng phát trở lại, đồng thời còn xuất hiện thêm nhiều tranh chấp mới liên quan đến chính vấn đề này.

Hiện nay, phần lớn vùng đất hoang ở phía Tây, ít nhất là thông qua các thỏa thuận chuyển nhượng, nếu chưa nói là theo quyền sở hữu vốn có, đã trở thành tài sản chung của toàn Liên bang.

Nhưng nếu Liên bang không còn tồn tại, thì những bang đã từng nhượng đất vì tinh thần thỏa hiệp liên bang rất có thể sẽ cho rằng lý do của việc chuyển nhượng không còn nữa, và vì thế họ có quyền đòi lại những vùng đất ấy.

Ngược lại, các bang khác chắc chắn sẽ yêu cầu được chia phần dựa trên quyền đại diện bình đẳng của mình trong Liên bang trước đây.

Họ sẽ lập luận rằng một khi việc chuyển nhượng đã được thực hiện thì không thể đơn phương thu hồi; và rằng mọi bang đều có quyền được chia sẻ những vùng lãnh thổ mà toàn Liên bang đã cùng nhau giành được hoặc bảo vệ bằng nỗ lực chung.

Ngay cả nếu — điều khó có thể xảy ra — tất cả các bang đều đồng ý rằng mỗi bang đều có quyền hưởng một phần tài sản chung ấy, thì vẫn còn một vấn đề rất khó giải quyết:

Làm thế nào để phân chia chúng một cách công bằng?

Mỗi bang chắc chắn sẽ đưa ra một nguyên tắc phân chia khác nhau, phù hợp với lợi ích của chính mình.

Và bởi những nguyên tắc ấy trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi đối lập của các bên, nên rất khó có thể đạt được một giải pháp hòa bình mà tất cả đều chấp nhận.

Vì vậy, chỉ riêng vùng lãnh thổ rộng lớn ở phía Tây cũng đã là một đấu trường đầy tiềm năng cho những tranh chấp về chủ quyền giữa các bang.

Và trong bối cảnh không còn một chính quyền chung hay một cơ quan tài phán tối cao để đứng ra phân xử, sẽ không có ai đủ thẩm quyền làm trọng tài giữa các bên tranh chấp.

Nếu nhìn từ những gì đã xảy ra trong quá khứ để dự đoán tương lai, thì chúng ta hoàn toàn có cơ sở để lo ngại rằng thanh gươm sẽ nhiều lần trở thành “trọng tài” cuối cùng giải quyết những bất đồng ấy.

Cuộc tranh chấp giữa bang Connecticut và bang Pennsylvania về vùng đất Wyoming chính là một lời cảnh báo rằng chúng ta không nên quá lạc quan khi tin rằng những tranh chấp kiểu này sẽ dễ dàng được giải quyết trong hòa bình.

Theo Điều lệ Hợp bang (Articles of Confederation), hai bang buộc phải đưa vụ việc ra một tòa án liên bang để phân xử.

Hai bên đã chấp nhận làm như vậy, và tòa án đã ra phán quyết có lợi cho bang Pennsylvania.

Thế nhưng, Connecticut đã bày tỏ sự bất mãn rất rõ ràng đối với quyết định ấy.

Thậm chí, bang này cũng không thực sự chấp nhận phán quyết cho đến khi, thông qua thương lượng và những giải pháp thỏa hiệp, họ nhận được một sự bù đắp tương xứng với những gì mình cho là đã bị mất.

Tôi nêu lại sự việc này hoàn toàn không phải để chỉ trích bang Connecticut, dù chỉ một chút.

Không còn nghi ngờ gì nữa, họ thực sự tin rằng mình đã bị đối xử bất công bởi phán quyết của tòa án.

Và điều đó cũng hoàn toàn phù hợp với bản chất của con người: cũng như mỗi cá nhân, các quốc gia hay các bang rất khó có thể vui vẻ chấp nhận một quyết định bất lợi cho chính mình.

Những ai từng có cơ hội theo dõi sát những diễn biến bên trong của cuộc tranh chấp giữa bang New York và vùng Vermont đều có thể xác nhận rằng chúng tôi đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ, không chỉ từ những bang có liên quan trực tiếp đến vụ tranh chấp mà cả từ những bang hoàn toàn không có quyền lợi trong đó.

Họ cũng có thể làm chứng rằng hòa bình của toàn Liên bang đã từng đứng trước nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng nếu bang New York quyết định dùng vũ lực để khẳng định quyền của mình.

Có hai nguyên nhân chính dẫn đến sự phản đối ấy.

Thứ nhất là sự lo ngại của nhiều bang trước khả năng bang New York sẽ ngày càng trở nên quá hùng mạnh.

Thứ hai là lợi ích của một số cá nhân có thế lực ở các bang láng giềng, những người đã được chính quyền thực tế của vùng Vermont cấp quyền sở hữu đất đai tại đó.

Thậm chí, ngay cả những bang đưa ra yêu sách chủ quyền đối với Vermont để cạnh tranh với New York dường như còn quan tâm đến việc làm suy yếu và chia cắt bang New York hơn là thực sự bảo vệ yêu sách của chính mình.

Đó là các bang New Hampshire, Massachusetts và Connecticut.

Trong khi đó, New Jersey và Rhode Island luôn công khai và nhiệt tình ủng hộ nền độc lập của Vermont trong mọi dịp.

Bang Maryland cũng từng tích cực ủng hộ việc Vermont trở thành một bang độc lập, nhưng chỉ đến khi họ nhận thấy Vermont có dấu hiệu thiết lập mối liên hệ với Canada thì mới thay đổi lập trường.

Những bang nhỏ này đều nhìn sự lớn mạnh ngày càng tăng của bang New York với ánh mắt đầy dè chừng và thiếu thiện cảm.

Khi nhìn lại toàn bộ những sự kiện đó, chúng ta có thể nhận ra khá rõ một số nguyên nhân rất dễ khiến các bang rơi vào xung đột với nhau, nếu chẳng may họ phải đối mặt với số phận bất hạnh là Liên bang tan rã.

Sự cạnh tranh về thương mại cũng sẽ là một nguồn gốc quan trọng khác của những cuộc xung đột.

Những bang có điều kiện địa lý kém thuận lợi sẽ luôn tìm cách thoát khỏi những bất lợi của mình và mong muốn được chia sẻ những lợi thế mà các bang may mắn hơn đang có.

Mỗi bang, hoặc mỗi liên minh riêng biệt, sẽ theo đuổi một chính sách thương mại phù hợp với lợi ích riêng của mình.

Điều đó tất yếu sẽ dẫn đến những sự phân biệt đối xử, những ưu đãi dành cho bên này và sự loại trừ đối với bên khác, từ đó làm nảy sinh sự bất mãn.

Ngay từ những ngày đầu lập quốc, chúng ta đã quen với việc giao thương và qua lại với nhau trên cơ sở mọi bang đều được hưởng những quyền lợi bình đẳng.

Chính vì vậy, nếu những quyền lợi ấy bị thay đổi, thì cảm giác bất mãn sẽ còn mạnh mẽ hơn rất nhiều so với trường hợp trước đây chưa từng tồn tại sự bình đẳng đó.

Những quyết định hoàn toàn chính đáng của các quốc gia có chủ quyền nhằm bảo vệ lợi ích riêng của mình rất dễ bị chúng ta nhìn nhận như những hành động bất công hoặc những sự xúc phạm đối với mình.

Tinh thần năng động và dám mạo hiểm vốn là đặc trưng của giới thương nhân Hoa Kỳ từ lâu đã luôn tìm mọi cơ hội để phát huy.

Thật khó có thể tin rằng tinh thần mạnh mẽ ấy sẽ tự nguyện tuân thủ những quy định thương mại mà từng bang đặt ra nhằm dành các lợi ích độc quyền cho chính công dân của mình.

Việc vi phạm các quy định ấy từ một phía, và những nỗ lực ngăn chặn cũng như trừng phạt từ phía bên kia, sẽ rất dễ dẫn đến những hành động quá khích.

Và từ những hành động quá khích ấy, các biện pháp trả đũa rồi cuối cùng là chiến tranh sẽ trở thành một kết cục khó tránh khỏi.

Việc một số bang có thể dùng các chính sách thương mại để buộc những bang khác phải lệ thuộc vào mình về kinh tế chắc chắn sẽ không được các bang chịu thiệt chấp nhận lâu dài.

Mối quan hệ giữa New York, Connecticut và New Jersey là một ví dụ điển hình.

Vì nhu cầu có nguồn thu ngân sách, bang New York tất yếu sẽ phải đánh thuế đối với hàng hóa nhập khẩu.

Nhưng trên thực tế, một phần đáng kể số thuế đó sẽ do người dân của Connecticut và New Jersey gánh chịu, bởi họ chính là những người tiêu dùng các mặt hàng được nhập khẩu qua New York.

Dĩ nhiên, New York sẽ không muốn, và cũng không thể, từ bỏ nguồn lợi này.

Người dân New York sẽ không chấp nhận việc những khoản thuế mà chính họ phải gánh chịu lại được miễn cho công dân các bang láng giềng.

Hơn nữa, ngay cả nếu không có sự phản đối ấy, thì trên thực tế cũng không thể phân biệt được ai là người mua hàng của New York và ai là người đến từ các bang khác.

Vậy thì liệu Connecticut và New Jersey có thể chấp nhận mãi việc bị New York đánh thuế chỉ để phục vụ lợi ích riêng của bang này hay không?

Và liệu New York có thể tiếp tục yên ổn hưởng những lợi ích mà vị thế là trung tâm thương mại mang lại, trong khi các bang láng giềng coi chính lợi thế ấy là một sự bất công và áp bức đối với họ hay không?

Liệu New York có thể bảo vệ được vị thế đó trước sức ép ngày càng lớn từ Connecticut ở một phía và sự phối hợp gây áp lực của New Jersey ở phía còn lại hay không?

Chỉ những người quá liều lĩnh hoặc quá lạc quan mới dám trả lời khẳng định cho những câu hỏi ấy.

Khoản nợ công của Liên bang cũng sẽ là một nguyên nhân khác rất dễ dẫn đến xung đột giữa các bang hoặc các liên minh độc lập.

Ngay từ việc xác định mỗi bang phải gánh bao nhiêu phần nợ, cho đến quá trình trả dần khoản nợ ấy sau này, đều có thể làm nảy sinh bất mãn và thù địch.

Bởi lẽ, làm sao có thể thống nhất được một nguyên tắc phân chia mà tất cả các bang đều cho là công bằng?

Hầu như không có phương án nào có thể tránh khỏi những phản đối hợp lý từ phía này hay phía khác.

Và như vẫn thường xảy ra, những bất đồng ấy sẽ còn bị thổi phồng lên bởi lợi ích đối lập của các bên.

Ngay cả về nguyên tắc chung trong việc thanh toán khoản nợ quốc gia, các bang cũng đã có những quan điểm rất khác nhau.

Có những bang hoặc không đánh giá đúng tầm quan trọng của uy tín tín dụng quốc gia, hoặc vì người dân của họ hầu như không có quyền lợi trực tiếp trong vấn đề này, nên tỏ ra thờ ơ, thậm chí không muốn thanh toán các khoản nợ trong nước.

Những bang ấy tất nhiên sẽ có xu hướng nhấn mạnh những khó khăn trong việc phân chia nghĩa vụ trả nợ, nhằm trì hoãn hoặc né tránh trách nhiệm của mình.

Ngược lại, có những bang mà rất nhiều công dân của họ là chủ nợ của chính phủ, với số tiền cho vay lớn hơn nhiều so với tỷ lệ mà bang đó phải gánh trong tổng số nợ quốc gia.

Những bang này chắc chắn sẽ kiên quyết yêu cầu phải có một cơ chế phân chia nghĩa vụ trả nợ công bằng và hiệu quả.

Sự chần chừ của nhóm bang thứ nhất sẽ làm gia tăng sự bất bình của nhóm bang thứ hai.

Trong khi đó, việc thống nhất một nguyên tắc phân chia sẽ tiếp tục bị trì hoãn, một phần vì những bất đồng thực sự về quan điểm, phần khác vì những sự trì hoãn có chủ ý.

Người dân ở các bang có quyền lợi liên quan sẽ liên tục gây sức ép; các quốc gia chủ nợ ở nước ngoài cũng sẽ không ngừng yêu cầu Hoa Kỳ thực hiện những nghĩa vụ chính đáng của mình.

Và như vậy, hòa bình của các bang sẽ phải đối mặt cùng lúc với hai mối nguy hiểm: sự can thiệp hoặc xâm lược từ bên ngoài, và những xung đột gay gắt ngay trong nội bộ đất nước.

Giả sử mọi khó khăn trong việc thống nhất một nguyên tắc phân chia đã được vượt qua và nghĩa vụ trả nợ cũng đã được phân bổ xong.

Thì sau một thời gian thực hiện, rất có thể người ta sẽ nhận ra rằng nguyên tắc ấy lại khiến một số bang phải gánh chịu nhiều hơn những bang khác.

Những bang cảm thấy mình chịu thiệt tất nhiên sẽ yêu cầu giảm bớt gánh nặng.

Còn những bang được hưởng lợi thì cũng sẽ không muốn xem xét lại cách phân chia đó, bởi họ hiểu rằng bất kỳ sự điều chỉnh nào cũng có thể khiến phần nghĩa vụ của mình tăng lên.

Sự từ chối ấy sẽ trở thành một cái cớ hoàn toàn thuận tiện để các bang bất mãn ngừng thực hiện nghĩa vụ đóng góp của mình.

Và việc các bang ấy không thực hiện đúng cam kết chắc chắn sẽ làm bùng lên những cuộc tranh cãi và chỉ trích gay gắt.

Ngay cả khi nguyên tắc phân chia được áp dụng trên thực tế chứng minh là công bằng, thì tình trạng chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ đóng góp ở một số bang vẫn rất có thể xảy ra vì nhiều nguyên nhân khác.

Đó có thể là do nguồn thu thực sự không đủ; do quản lý tài chính yếu kém; do những biến động bất thường trong hoạt động của chính quyền; và hơn hết là vì con người vốn luôn miễn cưỡng bỏ tiền cho những mục đích mà họ cho rằng đã không còn cấp bách, nhất là khi những khoản chi ấy lại làm giảm khả năng đáp ứng các nhu cầu trước mắt của chính họ.

Dù xuất phát từ nguyên nhân nào, việc chậm trễ hoặc không hoàn thành nghĩa vụ tài chính cũng sẽ kéo theo những lời phàn nàn, những sự đổ lỗi lẫn nhau và các cuộc tranh cãi không hồi kết.

Có lẽ không điều gì dễ làm tổn hại đến hòa bình giữa các quốc gia hơn việc họ cùng bị ràng buộc phải đóng góp cho một mục tiêu chung nhưng lại không cùng được hưởng lợi một cách ngang nhau.

Bởi như một nhận xét tuy cũ nhưng luôn đúng: không có vấn đề nào khiến con người bất đồng với nhau nhanh bằng chuyện phải bỏ tiền ra chi trả.

Những đạo luật xâm phạm các hợp đồng dân sự cũng có thể trở thành một nguyên nhân khác dễ dẫn đến xung đột giữa các bang.

Bởi lẽ, khi những đạo luật ấy làm tổn hại đến quyền lợi của công dân một bang, thì về thực chất, chúng cũng là sự xâm phạm đến quyền và lợi ích của chính bang đó.

Chúng ta không có lý do gì để tin rằng, nếu các bang hoạt động hoàn toàn độc lập và không còn chịu bất kỳ cơ chế kiểm soát nào mạnh hơn hiện nay, thì các cơ quan lập pháp của họ sẽ hành xử khoan dung, công bằng và tôn trọng pháp quyền hơn trước.

Thực tế, chúng ta đã quá nhiều lần chứng kiến những đạo luật đáng hổ thẹn làm hoen ố hệ thống pháp luật của không ít bang.

Chúng ta đã thấy rõ làn sóng đòi trả đũa nổi lên ở Connecticut sau những hành động quá đáng của cơ quan lập pháp bang Rhode Island.

Và hoàn toàn có cơ sở để tin rằng, nếu những sự việc tương tự xảy ra trong một hoàn cảnh khác, thì hậu quả sẽ không chỉ dừng lại ở một cuộc chiến bằng giấy tờ, văn bản hay các vụ kiện tụng, mà sẽ là một cuộc chiến bằng gươm giáo để trừng phạt những hành vi ngang nhiên chà đạp lên các nghĩa vụ đạo đức và những nguyên tắc cơ bản của công lý trong xã hội.

Khả năng các bang hoặc các liên minh khác nhau sẽ thiết lập những mối liên minh riêng với các cường quốc khác nhau, cũng như tác động của tình trạng ấy đối với hòa bình của toàn nước Mỹ, đã được tôi phân tích khá đầy đủ trong các bài trước.

Từ những lập luận đó, có thể rút ra một kết luận rõ ràng:

Nếu nước Mỹ không còn được gắn kết thành một quốc gia thống nhất, hoặc chỉ liên kết với nhau bằng một liên minh lỏng lẻo nhằm cùng tấn công và phòng thủ, thì những liên minh đối ngoại chồng chéo và đối nghịch ấy sẽ từng bước kéo nước Mỹ vào mê cung đầy nguy hiểm của những cuộc đấu đá chính trị và chiến tranh ở châu Âu.

Đồng thời, những cuộc cạnh tranh và xung đột giữa các quốc gia hình thành trên lãnh thổ Hoa Kỳ cũng sẽ khiến họ trở thành miếng mồi cho những âm mưu, thủ đoạn và sự thao túng của các cường quốc bên ngoài — những quốc gia vốn đều xem tất cả họ là đối thủ. “Chia để trị” (Divide et impera) chắc chắn sẽ trở thành phương châm của mọi quốc gia hoặc thù ghét, hoặc e ngại sức mạnh của nước Mỹ.


Đăng ngày

trong