Phong Trào Duy Tân

Những Cú “Sốc Hàng” Ở Việt Nam Hậu Đại Hội XIV. Kỳ 8: Lương tri dân chủ, hãy cảnh giác!

Tác giả: Nguyễn Hoàng Việt

Chiến sỹ vận động dân chủ cho Việt Nam 

(Bản án lịch sử dưới ách độc tài của ĐCSVN trong “kỷ nguyên vươn mình”)

Trên đây là thông điệp rút ra từ thực tiễn cai trị kéo dài nhiều thập niên dưới ách cai trị của ĐCSVN, từ cấu trúc quyền lực không chịu trách nhiệm trước nhân dân, và từ những chuỗi hành động có hệ thống nhằm bóp nghẹt mọi mầm mống của tự do. Một chế độ có thể ký hiệp định với quốc tế vì lợi ích, nhưng chỉ một chế độ vô chính danh mới vừa ký kết với thế giới tự do, vừa coi chính những giá trị làm nên thế giới ấy là kẻ thù sinh tử. Sự mâu thuẫn này không phải là chiến thuật ngoại giao, mà là bản chất giảo hoạt của chế độ. 

Sau những cái bắt tay được dàn dựng công phu, sau những tuyên bố ngoại giao trơn tru và những hiệp định thương mại được quảng bá như biểu tượng của hội nhập và tiến bộ, đang tồn tại một sự thật không thể tiếp tục bị che giấu. Đảng Cộng sản Việt Nam là một chế độ hai mặt: bên ngoài tận dụng trật tự tự do của thế giới dân chủ để duy trì tăng trưởng, đầu tư và tính chính danh quốc tế; bên trong vận hành một hệ thống phi tự do, nơi pháp luật bị bẻ cong thành công cụ đàn áp, nơi quyền lực công an đứng trên đạo lý, và nơi mọi giá trị phổ quát mà nhân loại phải trả giá bằng máu để giành được đều bị coi là mối đe dọa cần phải tiêu diệt. 

Đây không phải là những nhận định cảm tính, càng không phải là lời kêu gọi đối đầu ý thức hệ. Đây là kết luận rút ra từ thực tiễn cai trị kéo dài nhiều thập niên, từ cấu trúc quyền lực không chịu trách nhiệm trước nhân dân, và từ một chuỗi hành động có hệ thống nhằm bóp nghẹt mọi mầm mống của tự do. Một chế độ có thể ký hiệp định vì các lợi ích, nhưng chỉ một chế độ phi chính danh mới vừa ký kết với thế giới tự do, vừa coi chính những giá trị làm nên thế giới ấy là kẻ thù sinh tử. Sự mâu thuẫn này không phải là chiến thuật tạm thời, mà là một bản chất giảo hoạt. 

Trong diễn ngôn chính thức và các văn bản an ninh nội bộ, nhà nước Việt Nam không hề che giấu nỗi ám ảnh rằng dân chủ, xã hội dân sự và quyền con người là sản phẩm của “thế lực thù địch”. Nỗi sợ “cách mạng màu” được lặp đi lặp lại như một câu thần chú, không phải vì nguy cơ bên ngoài, mà vì sự trống rỗng bên trong. Một chính quyền thực sự được dân ủng hộ không cần phải sợ công đoàn độc lập. Một nhà nước tự tin không cần phải sợ báo chí tự do. Và một chế độ chính danh không cần phải bỏ tù những người ôn hòa nhất để duy trì ổn định. Nỗi sợ ấy là sự thú nhận rằng quyền lực đang đứng trên một nền tảng lung lay. 

Chỉ thị 24, dù được ban hành trong bóng tối, là bản tuyên ngôn trần trụi nhất của một nhà nước công an trị (1). Ở đó, an ninh quốc gia không còn đồng nghĩa với an toàn của người dân hay sự toàn vẹn lãnh thổ, mà bị đồng nhất tuyệt đối với sự tồn tại độc quyền của Đảng Cộng sản. Mọi biểu hiện của đời sống xã hội độc lập, dù ôn hòa đến đâu, đều bị xếp vào diện nguy cơ cần triệt tiêu. Nhà nước ấy không còn phân biệt giữa phản biện và phản loạn, giữa tiếng nói công dân và kẻ thù, bởi vì sự tồn tại của bất kỳ tiếng nói nào ngoài sự chỉ huy của công an đều là lời phủ nhận trực tiếp đối với tính chính danh của họ. 

Chính trong bối cảnh đó, hàng loạt nhà hoạt động môi trường, chuyên gia chính sách, nhà báo độc lập, người bảo vệ quyền lao động và những công dân bình thường đã bị bắt giữ, câu lưu, kết án bằng những điều luật mơ hồ. Họ không gây bất ổn cho đất nước. Trái lại, họ là những người cố gắng làm cho xã hội trở nên tử tế và có trách nhiệm hơn. Nhưng đối với một chế độ vô pháp, sự tử tế là nguy hiểm, và trách nhiệm là mối đe dọa. Một xã hội có khả năng tự tổ chức mà không cần sự chỉ đạo của Đảng là viễn cảnh không thể chấp nhận. 

Phương Tây, trong cơn khát đối tác chiến lược, đã tự thuyết phục mình rằng Hà Nội có thể trở thành đối trọng với Bắc Kinh. Đó là một ảo tưởng vừa ngây thơ vừa nguy hiểm! (2) Việt Nam không thể làm đối trọng, vì đó là một phiên bản lệ thuộc, yếu ớt và mong manh hơn của cùng một mô hình toàn trị. Chế độ này sao chép Trung Quốc ở những điểm cốt lõi nhất: tăng trưởng bằng lao động rẻ và xuất khẩu, kiểm soát chính trị tuyệt đối, đàn áp xã hội dân sự, và sử dụng chủ nghĩa dân tộc chọn lọc để che đậy bất công. Điểm khác biệt duy nhất là ở chỗ Việt Nam không có năng lực công nghệ, không có thị trường nội địa đủ mạnh, và không có thể chế để tự đứng vững. Vì vậy, họ buộc phải lợi dụng khe hở giữa các cường quốc để kéo dài sự tồn tại của mình. 

Kinh nghiệm EVFTA đã phơi bày toàn bộ sự giả dối của những cam kết ấy (3). Việt Nam ký kết các tiêu chuẩn về quyền lao động và xã hội, rồi ngay sau đó vô hiệu hóa chính những con người có khả năng thực thi các tiêu chuẩn đó. Điều này cho thấy một chân lý không thể chối cãi: với Đảng Cộng sản Việt Nam, luật pháp quốc tế chỉ có giá trị khi nó không động chạm đến quyền lực công an trị. Tin rằng các danh xưng ngoại giao hay hiệp định mới sẽ tự động dẫn tới cải cách là một sự tự ru ngủ có hệ thống. 

Bản án lịch sử này sẽ không trọn vẹn nếu chỉ dừng ở cấu trúc và chính sách. Bởi vì đằng sau những văn bản lạnh lùng là những thân phận con người bị nghiền nát. Gia đình Cấn Thị Thêu bị bức hại suốt nhiều năm chỉ vì đòi quyền đất đai và quyền sống (4). Người mẹ đã sinh ra một trí thức như Phạm Đoan Trang phải sống trong nỗi đau của một xã hội bỏ tù những người nói sự thật (5). Và đau đớn hơn cả là hình ảnh người mẹ đơn thân với năm đứa con, trong đó có một em bé tự kỷ, bị đẩy vào cảnh bơ vơ chỉ vì người mẹ ấy viết trên Facebook những nhận xét hoàn toàn ôn hòa và khách quan về một xã hội công an trị dưới thời Tô Lâm (6). Những đứa trẻ ấy không phải là “thế lực thù địch”. Chúng là bằng chứng sống cho sự vô nhân đạo của một chế độ coi lời nói trung thực là tội ác. 

LỜI NHẮN GỞI TỚI CÁC NỀN DÂN CHỦ… 

Chúng tôi muốn gởi tới các nền dân chủ, tới Quốc hội Hoa Kỳ và Nghị viện châu Âu một thông điệp: Không ai yêu cầu quý vị từ bỏ quan hệ với Việt Nam. Nhưng lương tri dân chủ không cho phép quý vị tiếp tục đánh đồng lợi ích kinh tế ngắn hạn với sự chuyển hóa dài hạn. Không cho phép trao ưu đãi vô điều kiện cho một chế độ toòn tại nhờ đàn áp. Và càng không cho phép hy sinh những con người can trường nhất của xã hội Việt Nam để đổi lấy một thứ ổn định giả tạo, vốn chỉ là sự trì hoãn của một khủng hoảng không thể tránh khỏi. Mỗi lần quý vị im lặng, các nền dân chủ không chỉ phản bội những nam thanh nữ tú đang bị đày đọa đằng sau những cánh song sắt, mà các vị còn phản bội lại chính các giá trị làm nên sự tồn tại của mình (7). 

Lương tri dân chủ, hãy cảnh giác.
Không phải để đối đầu – mà để không bị mang tiếng là đồng lõa với cái ác.
 

GỞI TỚI TÔ LÂM VÀ BỘ MÁY CÔNG AN TRỊ 

Quyền lực có thể cưỡng ép trong im lặng suốt một thời gian. Nhưng lịch sử không bao giờ quên. Không có bộ máy an ninh nào đủ lớn để giam cầm ký ức tập thể của một dân tộc, và không có tuyên truyền nào đủ mánh khóe để che lấp sự thật mãi mãi. Những gì hôm nay được gọi là “ổn định” sẽ được gọi đúng tên vào một ngày mai: Đấy là sự sợ hãi được tổ chức hóa. 

Thế kỷ XX và XXI đã có đủ tên tuổi của những kẻ tin rằng đàn áp sẽ mang lại vinh quang. Họ từng đứng trên bục cao, ra lệnh bắt bớ, nhân danh trật tự và an ninh. Nhưng khi thời gian trôi qua, tất cả những mỹ từ ấy đều rơi rụng, chỉ còn lại một phán quyết lạnh lùng của lịch sử (8). Đừng để tên mình bị xếp tiếp theo danh sách những đồ tể của thời đại, những kẻ tưởng rằng quyền lực công an có thể thay thế đạo lý và nhân tính. 

Không có “hào quang” nào bù đắp được việc để lại một di sản sợ hãi, nước mắt và những trẻ em bị bỏ rơi. Không có tượng đài nào đủ cao để che khuất hình ảnh những gia đình tan nát, những người mẹ tuyệt vọng và những đứa trẻ lớn lên với ký ức về một nhà nước đã quay lưng lại với chính đồng bào và dân tộc của mình. Lịch sử không hỏi ai đã ký bao nhiêu hiệp định, mà hỏi ai đã đứng về phía con người khi điều đó nguy hiểm nhất. 

Bản án này không nhằm kích động thù hận. Nó nhằm gọi đúng tên sự việc. Cảnh giác không phải là thù địch. Cảnh giác là trung thành với các giá trị nguyên ủy của thế giới văn minh: bình đẳng, tự do và bác ái. Nếu thế giới dân chủ tiếp tục ru ngủ chính mình bằng ngôn từ ngoại giao, thì họ sẽ tự biến sự cả tin của mình thành tài nguyên chiến lược cho một chế độ vô thiên vô pháp, tồn tại bằng việc chống lại chính những giá trị ấy. 

Tài liệu tham khảo:  

(1) https://www.voatiengviet.com/a/phim-anh-va-chi-thi-24-xa-hoi-phan-manh-trong-mot-chinh-the-la-mat-la-trai-/7512831.html 

(2) https://www.cambridge.org/core/services/aop-cambridge-core/content/view/53F36E3CC4F848E181385E391943D2FB/S1598240823000164a.pdf/div-class-title-why-vietnam-is-not-balancing-china-vietnamese-security-priorities-and-the-dynamics-in-sino-vietnam-relations-div.pdf?utm_source=chatgpt.com 

(3) https://jamestown.org/the-prc-eyes-vietnam-chinese-assessments-of-vietnams-hedging-strategy/?utm_source=chatgpt.com 

(4) https://www.frontlinedefenders.org/en/case/land-rights-defenders-can-thi-theu-and-trinh-ba-tu-sentenced-1?utm_source=chatgpt.com 

(5) https://en.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_%C4%90oan_Trang 

(6) https://www.bbc.com/vietnamese/articles/c0q4149ze79o (Bà Hoàng Thị Hồng Thái bị bắt, vì sao?) 

(7) https://www.hrw.org/news/2019/10/15/eu-should-not-sacrifice-human-rights-trade-vietnam 

(8) https://ia801505.us.archive.org/11/items/on-tyranny-twenty-lessons-from-the-twentieth-century-by-timothy-snyder-z-lib.org/On%20Tyranny%20Twenty%20Lessons%20from%20the%20Twentieth%20Century%20by%20Timothy%20Snyder%20%28z-lib.org%29.pdf 


Đăng ngày

trong

,