Phong Trào Duy Tân

Luận cương Liên bang số 59: Về quyền của Quốc hội trong việc quy định các cuộc bầu cử liên bang

Bản tiếng Anh từ Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.

Nguyễn Huy Vũ dịch và giới thiệu.

Giới thiệu:

Luận cương Liên bang số 59 bàn về một vấn đề quan trọng trong thiết kế của Hiến pháp Hoa Kỳ: quyền của Quốc hội liên bang được can thiệp vào việc tổ chức các cuộc bầu cử liên bang khi cần thiết. Những người phản đối lo ngại rằng quyền lực này có thể mở đường cho sự lạm quyền của chính quyền quốc gia. Để trả lời, Hamilton lập luận rằng mọi chính quyền muốn tồn tại đều phải có khả năng tự bảo vệ mình và không thể hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của một cấp chính quyền khác.

Ông cho rằng nếu các bang nắm độc quyền quyền tổ chức bầu cử liên bang, họ hoàn toàn có thể làm tê liệt hoặc thậm chí xóa bỏ chính quyền quốc gia chỉ bằng cách từ chối tổ chức bầu cử. Vì vậy, Hiến pháp đã lựa chọn một giải pháp cân bằng: các bang chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử trong điều kiện bình thường, nhưng Quốc hội vẫn giữ quyền can thiệp cuối cùng để bảo đảm sự tồn tại của Liên bang khi xuất hiện những tình huống bất thường.

Hamilton cũng bác bỏ lập luận cho rằng lợi ích của các bang đủ để ngăn họ lạm dụng quyền lực này. Theo ông, lợi ích của người dân và tham vọng của các nhà lãnh đạo địa phương không phải lúc nào cũng trùng khớp. Trong những hoàn cảnh nhất định, các chính khách bang có thể bị thúc đẩy bởi cạnh tranh quyền lực, tham vọng cá nhân hoặc thậm chí sự kích động từ các thế lực nước ngoài để chống lại chính quyền quốc gia. Vì vậy, việc trao cho Quốc hội quyền bảo vệ các cuộc bầu cử liên bang không phải là sự tập trung quyền lực quá mức, mà là một biện pháp cần thiết để bảo đảm sự ổn định và trường tồn của Liên bang.


Luận cương Liên bang số 59: Về quyền của Quốc hội trong việc quy định các cuộc bầu cử liên bang

Từ New York Packet
Thứ sáu, ngày 22 tháng 2, 1788.

Tác giả: Alexander Hamilton

Gửi nhân dân New York:

Trình tự tự nhiên của cuộc thảo luận đưa chúng ta đến việc xem xét một điều khoản trong Hiến pháp cho phép Quốc hội, với tư cách là cơ quan lập pháp quốc gia, có quyền can thiệp cuối cùng vào việc quy định các cuộc bầu cử của chính mình.

Điều khoản này quy định rằng thời gian, địa điểm và cách thức tổ chức bầu cử Thượng nghị sĩ và Dân biểu trước hết sẽ do cơ quan lập pháp của mỗi bang quyết định. Tuy nhiên, Quốc hội vẫn có quyền, bằng luật liên bang, sửa đổi hoặc thay thế các quy định đó khi cần thiết, ngoại trừ địa điểm bầu Thượng nghị sĩ.

Điều khoản này không chỉ bị những người phản đối toàn bộ Hiến pháp công kích, mà còn bị chỉ trích bởi một số người có quan điểm ôn hòa hơn. Thậm chí có người tuy ủng hộ hầu hết các nội dung của Hiến pháp nhưng vẫn cho rằng quy định này là một ngoại lệ đáng lo ngại.

Tuy nhiên, theo tôi, khó có điều khoản nào trong toàn bộ bản Hiến pháp lại có thể được bảo vệ một cách vững chắc hơn điều khoản này.

Lý do rất đơn giản: mọi chính quyền đều phải có trong tay những phương tiện cần thiết để bảo đảm sự tồn tại của chính mình.

Bất kỳ ai suy luận một cách công bằng đều sẽ dễ dàng đồng ý với nguyên tắc đó. Ngược lại, nếu một chính quyền bị đặt vào tình thế phải phụ thuộc vào người khác để duy trì sự tồn tại của mình, thì đó là một khiếm khuyết nghiêm trọng trong thiết kế thể chế. Ngay cả khi vì một lý do đặc biệt nào đó mà phải chấp nhận sự sắp đặt như vậy, người ta vẫn phải xem đó là một điểm yếu tiềm tàng, có thể trở thành nguồn gốc của sự bất ổn hoặc thậm chí hỗn loạn trong tương lai.

Không ai có thể cho rằng Hiến pháp có thể viết sẵn một bộ luật bầu cử đủ chi tiết và đủ linh hoạt để thích ứng với mọi thay đổi có thể xảy ra trong tương lai. Vì vậy, chắc chắn phải có một cơ quan nào đó được trao quyền điều chỉnh các quy định về bầu cử khi hoàn cảnh đòi hỏi.

Xét một cách hợp lý, chỉ có ba khả năng. Hoặc quyền này được trao hoàn toàn cho Quốc hội liên bang; hoặc được trao hoàn toàn cho các cơ quan lập pháp bang; hoặc trước hết giao cho các bang nhưng Quốc hội vẫn giữ quyền can thiệp khi cần thiết.

Những người soạn thảo Hiến pháp đã lựa chọn phương án thứ ba, và đó là lựa chọn hợp lý nhất.

Trong điều kiện bình thường, việc tổ chức bầu cử liên bang được giao cho chính quyền các bang. Điều này vừa thuận tiện hơn vừa phù hợp với nguyên tắc quản lý địa phương. Nhưng đồng thời, Hiến pháp vẫn dành cho chính quyền quốc gia quyền can thiệp trong những trường hợp đặc biệt, khi sự an toàn hoặc sự tồn tại của Liên bang đòi hỏi điều đó.

Không có gì rõ ràng hơn việc nếu các bang nắm độc quyền quyền tổ chức bầu cử liên bang, thì sự tồn tại của Liên bang sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của họ. Chỉ cần các cơ quan lập pháp bang từ chối hoặc bỏ mặc việc tổ chức bầu cử, họ có thể khiến chính quyền liên bang không còn đủ người để vận hành, thậm chí làm cho nó ngừng tồn tại.

Nói rằng điều đó khó xảy ra không phải là một câu trả lời thỏa đáng. Vấn đề không nằm ở chỗ khả năng ấy lớn hay nhỏ, mà ở chỗ Hiến pháp không nên để tồn tại một nguy cơ như vậy mà không có biện pháp phòng ngừa tương xứng. Chỉ riêng việc điều đó có thể xảy ra đã là một lý do đủ mạnh để phản đối việc trao toàn bộ quyền lực này cho các bang.

Cho đến nay cũng chưa ai đưa ra được một lý do thuyết phục để biện minh cho việc chấp nhận rủi ro đó. Những nỗi lo sợ phóng đại hoặc những sự nghi ngờ quá mức đối với chính quyền liên bang không thể được xem là lập luận nghiêm túc.

Nếu chúng ta muốn giả định rằng quyền lực có thể bị lạm dụng, thì cũng công bằng khi giả định điều đó đối với chính quyền bang chứ không riêng gì chính quyền liên bang. Và nếu phải lựa chọn nơi trao quyền bảo vệ sự tồn tại của Liên bang, thì hợp lý hơn là giao quyền ấy cho chính Liên bang, thay vì giao cho một cơ quan khác rồi hy vọng họ sẽ luôn hành động vì lợi ích của nó.

Hãy thử hình dung điều ngược lại. Giả sử Hiến pháp trao cho chính quyền liên bang quyền kiểm soát các cuộc bầu cử của từng bang. Chắc chắn mọi người sẽ lập tức lên án quy định đó là sự đảo lộn quyền lực một cách vô lý và là một công cụ được thiết kế để phá hoại các chính quyền bang.

Nếu điều đó rõ ràng là sai trong trường hợp trên, thì cũng sai không kém khi đặt sự tồn tại của chính quyền quốc gia vào sự tùy nghi của các bang. Một cái nhìn khách quan sẽ dẫn đến kết luận rằng, trong phạm vi có thể, mỗi cấp chính quyền phải có khả năng tự bảo vệ sự tồn tại của chính mình.

Để phản đối lập luận này, có người cho rằng bản thân cơ cấu của Thượng viện quốc gia cũng chứa đựng một rủi ro tương tự. Các cơ quan lập pháp bang có quyền lựa chọn Thượng nghị sĩ; vì thế, nếu họ từ chối thực hiện việc bổ nhiệm này, họ cũng có thể giáng một đòn nghiêm trọng vào Liên bang. Từ đó, người ta lập luận rằng nếu Hiến pháp đã chấp nhận sự phụ thuộc đó trong trường hợp Thượng viện, thì cũng không có lý do gì để phản đối việc giao cho các bang toàn quyền kiểm soát các cuộc bầu cử liên bang.

Đó là một lập luận có vẻ hợp lý, nhưng cần được xem xét kỹ lưỡng hơn.

Người ta còn có thể lập luận thêm rằng lợi ích của mỗi bang trong việc duy trì tiếng nói và sự đại diện của mình tại các cơ quan quốc gia sẽ là một bảo đảm đủ mạnh để ngăn họ lạm dụng quyền lực này.

Lập luận ấy thoạt nghe có vẻ hợp lý, nhưng khi xem xét kỹ hơn lại không thật sự vững chắc.

Đúng là các cơ quan lập pháp bang có thể gây tổn hại nghiêm trọng cho chính quyền liên bang bằng cách từ chối bổ nhiệm Thượng nghị sĩ. Tuy nhiên, việc họ đã được trao quyền đó trong một trường hợp không có nghĩa là nên tiếp tục trao cho họ những quyền tương tự trong mọi trường hợp khác.

Có những tình huống mà tác hại của việc trao thêm quyền như vậy còn lớn hơn nhiều, trong khi lại không có những lý do đủ mạnh để biện minh cho nó. Việc cho phép các bang tham gia vào quá trình hình thành Thượng viện là một sự nhượng bộ cần thiết nhằm bảo đảm vai trò của các bang trong cấu trúc liên bang. Nếu không làm như vậy, người ta có thể cho rằng Hiến pháp đã hoàn toàn gạt bỏ nguyên tắc liên bang và tước đi một trong những bảo đảm quan trọng nhất dành cho các bang.

Vì thế, dù việc trao cho các bang quyền lựa chọn Thượng nghị sĩ có thể mang theo một số rủi ro nhất định, đó là cái giá phải trả để đạt được một lợi ích lớn hơn. Nhưng từ việc chấp nhận một rủi ro cần thiết không thể suy ra rằng chúng ta nên tiếp tục chấp nhận thêm những rủi ro khác khi không có nhu cầu tương tự.

Hơn nữa, chính quyền liên bang sẽ đối mặt với nguy cơ lớn hơn nhiều nếu các bang được trao toàn quyền kiểm soát các cuộc bầu cử Hạ viện, so với quyền lựa chọn thành viên Thượng viện.

Các Thượng nghị sĩ được bầu với nhiệm kỳ sáu năm. Cứ hai năm lại có một phần ba số ghế được thay thế. Mỗi bang chỉ có hai Thượng nghị sĩ và để Thượng viện hoạt động chỉ cần có đủ mười sáu thành viên làm túc số.

Nhờ những quy định đó, nếu một vài bang tạm thời từ chối bổ nhiệm Thượng nghị sĩ thì Thượng viện vẫn có thể tiếp tục tồn tại và hoạt động. Một sự phối hợp ngắn hạn của một số bang sẽ không đủ để làm tê liệt cơ quan này.

Điều đáng lo ngại hơn là khả năng tất cả hoặc phần lớn các bang cùng liên kết với nhau để chống lại Liên bang. Nhưng một sự liên kết rộng lớn và lâu dài như vậy chỉ có thể xảy ra nếu trong dân chúng đã xuất hiện một sự bất mãn sâu sắc và phổ biến đối với chính quyền quốc gia. Nếu điều đó thực sự xảy ra, thì rất có thể nguyên nhân nằm ở việc chính quyền liên bang đã thất bại trong việc phục vụ lợi ích và hạnh phúc của nhân dân. Trong trường hợp ấy, không một công dân có trách nhiệm nào còn có thể mong muốn duy trì nguyên trạng của hệ thống đó.

Tình hình của Hạ viện lại hoàn toàn khác.

Hạ viện phải được bầu lại toàn bộ hai năm một lần. Nếu các cơ quan lập pháp bang nắm độc quyền quyền tổ chức các cuộc bầu cử này, thì cứ mỗi kỳ bầu cử lại trở thành một thời điểm đầy rủi ro đối với sự tồn tại của Liên bang.

Chỉ cần lãnh đạo của một vài bang quan trọng bí mật thông đồng với nhau để ngăn cản việc tổ chức bầu cử, họ có thể khiến Hạ viện không được hình thành đúng hạn. Và nếu Hạ viện không thể được thành lập, toàn bộ hệ thống chính quyền liên bang có thể rơi vào khủng hoảng, thậm chí đứng trước nguy cơ tan rã.

Đó chính là lý do vì sao Hiến pháp không thể để quyền kiểm soát các cuộc bầu cử liên bang hoàn toàn nằm trong tay các bang, mà phải trao cho Quốc hội quyền can thiệp cuối cùng để bảo vệ sự tồn tại của chính Liên bang.

Tôi không phủ nhận rằng lập luận cho rằng lợi ích của mỗi bang trong việc duy trì sự hiện diện của mình tại các cơ quan liên bang sẽ giúp ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực đối với các cuộc bầu cử liên bang có một phần hợp lý.

Tuy nhiên, những ai xem xét vấn đề một cách kỹ lưỡng sẽ thấy rằng sự bảo đảm ấy không hoàn toàn đáng tin cậy. Bởi cần phân biệt giữa lợi ích của người dân đối với hạnh phúc và sự thịnh vượng chung của quốc gia với lợi ích của những người đang nắm quyền tại từng bang trong việc duy trì hoặc mở rộng quyền lực và ảnh hưởng của chính mình.

Người dân Hoa Kỳ có thể hết lòng ủng hộ Liên bang trong khi các nhà lãnh đạo của một số bang lại nghĩ khác. Do sự cạnh tranh tự nhiên giữa các trung tâm quyền lực, cùng với tham vọng cá nhân và mong muốn gia tăng vị thế của mình, những người đứng đầu các bang đôi khi có thể theo đuổi những mục tiêu không phù hợp với lợi ích chung của quốc gia. Nếu họ nhận được sự hậu thuẫn của một phe phái đủ mạnh trong bang của mình, xu hướng ấy càng dễ trở nên nguy hiểm hơn.

Trên thực tế, ngay trong cuộc tranh luận hiện nay về Hiến pháp, chúng ta đã thấy ở một số bang có sự khác biệt rõ rệt giữa quan điểm của đa số người dân và quan điểm của những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong bộ máy chính quyền bang.

Ý tưởng chia Hoa Kỳ thành nhiều liên minh hoặc liên bang nhỏ riêng biệt luôn là một cám dỗ đối với những người đặt tham vọng cá nhân lên trên lợi ích quốc gia. Bởi mỗi khi đất nước bị chia cắt thành nhiều trung tâm quyền lực hơn, cơ hội để họ đạt được địa vị, quyền lực và lợi ích riêng cũng tăng lên.

Nếu những người như vậy nắm trong tay quyền độc quyền kiểm soát các cuộc bầu cử liên bang, chỉ cần một nhóm nhỏ trong số họ tại vài bang quan trọng liên kết với nhau cũng có thể gây nguy hiểm cho sự tồn tại của Liên bang. Họ có thể lợi dụng một thời điểm mà dư luận đang bất mãn vì một vấn đề nào đó — thậm chí chính họ là người góp phần tạo ra sự bất mãn ấy — để ngăn cản việc bầu ra các thành viên của Hạ viện liên bang. Và nếu Hạ viện không được thành lập, toàn bộ chính quyền quốc gia có thể rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng.

Cũng không nên quên rằng một nước Mỹ thống nhất dưới một chính quyền hiệu quả rất có thể sẽ khiến nhiều quốc gia châu Âu cảm thấy lo ngại hoặc ganh tị. Vì vậy, những âm mưu nhằm làm suy yếu hoặc chia rẽ Liên bang đôi khi có thể bắt nguồn từ sự can thiệp của các thế lực nước ngoài, và thường sẽ tìm được những người trong nước sẵn sàng hưởng ứng hoặc tiếp tay cho chúng.

Chính vì thế, việc bảo vệ sự tồn tại của Liên bang không nên bị đặt vào tay bất kỳ ai ngoài những người có lợi ích trực tiếp và lâu dài trong việc duy trì nó. Trách nhiệm đó cần thuộc về những người mà vị thế và nhiệm vụ của họ luôn gắn chặt với sự ổn định, sức mạnh và sự tồn tại của chính quyền quốc gia.

PUBLIUS


Đăng ngày

trong

Thẻ: