Phong Trào Duy Tân

Luận cương liên bang số 60: Tiếp tục bàn về cùng một chủ đề: Quyền của Quốc hội trong việc điều chỉnh các cuộc bầu cử liên bang

Bản tiếng Anh từ Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.

Nguyễn Huy Vũ dịch và giới thiệu.

Giới thiệu:

Luận cương Liên bang số 60 tiếp tục bảo vệ điều khoản cho phép Quốc hội có quyền can thiệp cuối cùng vào việc quy định các cuộc bầu cử liên bang. Những người phản đối Hiến pháp lo ngại rằng quyền lực này có thể bị lạm dụng để thao túng bầu cử, ưu ái một tầng lớp đặc quyền hoặc hạn chế quyền tham gia chính trị của nhân dân.

Để trả lời, Hamilton lập luận rằng nỗi lo ấy thiếu cơ sở thực tế. Ông cho rằng chính quyền liên bang được cấu thành từ nhiều cơ quan khác nhau với nguồn gốc và lợi ích khác nhau, nên rất khó hình thành một âm mưu thống nhất nhằm thiên vị một nhóm người cụ thể. Sự đa dạng về kinh tế, xã hội và chính trị giữa các bang cũng khiến Quốc hội ít có khả năng phục vụ lợi ích riêng của bất kỳ tầng lớp nào hơn so với các cơ quan lập pháp của từng bang.

Hamilton đặc biệt bác bỏ cáo buộc rằng Hiến pháp sẽ trao quyền lực cho “người giàu có và xuất thân danh giá”. Theo ông, Quốc hội không có quyền đặt ra các điều kiện về tài sản đối với cử tri hay ứng cử viên; quyền hạn của họ chỉ giới hạn ở việc quy định thời gian, địa điểm và cách thức tổ chức bầu cử. Vì vậy, không tồn tại công cụ hợp hiến nào để thiết lập một chế độ đặc quyền cho giới giàu có.

Cuối cùng, Hamilton lập luận rằng nếu một chính quyền thực sự có ý định tước đoạt các quyền tự do cơ bản của nhân dân, họ sẽ không cần phải sử dụng những thủ đoạn gián tiếp thông qua luật bầu cử. Một âm mưu như vậy chắc chắn sẽ vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của các bang và của chính người dân. Từ đó, ông kết luận rằng quyền giám sát cuối cùng của Quốc hội đối với các cuộc bầu cử liên bang không phải là mối đe dọa đối với tự do, mà là một biện pháp cần thiết để bảo vệ sự tồn tại và hoạt động ổn định của chính quyền quốc gia.

Luận cương liên bang số 60: Tiếp tục bàn về cùng một chủ đề: Quyền của Quốc hội trong việc điều chỉnh các cuộc bầu cử liên bang

Từ New York Packet

Thứ Ba, ngày 26 tháng Hai năm 1788

Tác giả: Alexander Hamilton

Gửi nhân dân bang New York:

Chúng ta đã thấy rằng việc trao cho các cơ quan lập pháp bang quyền kiểm soát hoàn toàn các cuộc bầu cử liên bang là một điều nguy hiểm. Bây giờ hãy xem xét mối lo ngại theo chiều ngược lại: liệu có rủi ro nào khi trao cho chính quyền Liên bang quyền can thiệp cuối cùng vào việc điều chỉnh các cuộc bầu cử của mình hay không?

Không ai thực sự cho rằng Quốc hội sẽ sử dụng quyền lực này để tước bỏ quyền đại diện của một bang nào đó trong chính quyền quốc gia. Lợi ích của mọi bang đều gắn liền với việc duy trì nguyên tắc đại diện bình đẳng, nên lợi ích của mỗi bang cũng chính là sự bảo đảm cho các bang khác.

Tuy nhiên, những người phản đối lập luận rằng Quốc hội có thể lợi dụng quyền này để thiên vị một nhóm người nào đó. Chẳng hạn, họ có thể quy định địa điểm bầu cử theo cách khiến chỉ một tầng lớp hoặc một bộ phận dân cư nhất định có điều kiện tham gia bỏ phiếu, trong khi phần lớn công dân bị gây khó khăn hoặc bị loại khỏi quá trình lựa chọn đại diện.

Trong tất cả những giả thuyết được đưa ra để phản đối Hiến pháp, đây có lẽ là một trong những giả thuyết xa rời thực tế nhất.

Thứ nhất, không có cơ sở hợp lý nào để tin rằng một tinh thần cực đoan và bất thường như vậy lại có thể chi phối các cơ quan quyền lực quốc gia. 

Thứ hai, nếu một ngày nào đó một tinh thần nguy hiểm như thế thực sự xuất hiện trong chính quyền liên bang, thì nó gần như chắc chắn sẽ bộc lộ dưới những hình thức trực tiếp và quyết liệt hơn nhiều, chứ không phải thông qua những thủ đoạn vòng vo liên quan đến địa điểm bầu cử.

Chỉ cần suy nghĩ một điều cũng đủ thấy khả năng này khó xảy ra đến mức nào: bất kỳ nỗ lực nào nhằm tước đoạt quyền bầu cử của đại đa số nhân dân đều sẽ lập tức gây ra sự phản kháng mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, dưới sự lãnh đạo của các chính quyền bang.

Trong những thời kỳ hỗn loạn hoặc chia rẽ sâu sắc, có thể hình dung rằng một nhóm công dân nào đó sẽ bị đối xử bất công bởi một đa số đang nắm quyền. Điều đó từng xảy ra trong lịch sử và có thể xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào. Nhưng việc chính quyền cố tình tước bỏ một quyền tự do cơ bản của đại bộ phận nhân dân trong một đất nước rộng lớn, có trình độ dân trí cao và quen thuộc với các quyền tự do như nước Mỹ, mà không dẫn đến một cuộc nổi dậy của dân chúng, là điều gần như không thể tưởng tượng được.

Ngoài những lập luận chung đó, còn có những lý do cụ thể hơn khiến chúng ta không cần lo ngại về vấn đề này.

Chính quyền quốc gia không phải là một khối quyền lực đồng nhất. Nó được cấu thành từ nhiều cơ quan khác nhau, với cách hình thành khác nhau và những lợi ích chính trị khác nhau. Chính sự đa dạng đó tạo ra một rào cản mạnh mẽ đối với bất kỳ âm mưu nào nhằm thao túng hệ thống bầu cử vì lợi ích của một nhóm người riêng biệt.

Các bang trong Liên bang có sự khác biệt đáng kể về tài sản, tập quán, lối sống, văn hóa và đặc điểm xã hội. Vì vậy, các đại biểu được bầu từ những vùng khác nhau cũng sẽ mang theo những quan điểm và lợi ích khác nhau đối với các tầng lớp trong xã hội.

Đúng là việc cùng sống dưới một chính quyền chung sẽ dần làm cho các bang trở nên giống nhau hơn ở một số phương diện. Tuy nhiên, vẫn luôn tồn tại những yếu tố về địa lý, kinh tế, văn hóa và tâm lý xã hội khiến những khác biệt ấy tiếp tục được duy trì ở một mức độ nhất định.

Nhưng yếu tố quan trọng nhất nằm ở cách thức hình thành các cơ quan của chính quyền liên bang.

Hạ viện được bầu trực tiếp bởi nhân dân. Thượng viện được lựa chọn bởi các cơ quan lập pháp bang. Tổng thống được lựa chọn thông qua các đại cử tri được nhân dân bầu ra cho mục đích đó.

Khi các bộ phận của chính quyền được hình thành từ những nguồn gốc khác nhau như vậy, rất khó để họ cùng chia sẻ một lợi ích chung nhằm thiên vị một tầng lớp cử tri cụ thể hoặc liên kết với nhau trong một kế hoạch thao túng bầu cử vì lợi ích riêng.

Đối với Thượng viện, gần như không thể hình dung rằng việc Quốc hội quy định về thời gian hay cách thức bầu cử — vốn là toàn bộ phạm vi quyền lực mà Hiến pháp dự định trao cho chính quyền quốc gia đối với cơ quan này — lại có thể ảnh hưởng đến tinh thần hay xu hướng trong việc lựa chọn các Thượng nghị sĩ.

Các cơ quan lập pháp bang, với tư cách là những chủ thể trực tiếp lựa chọn Thượng nghị sĩ, sẽ không thể bị tác động bởi những yếu tố bên ngoài đơn thuần như vậy. Chỉ riêng điều đó cũng đủ để thấy rằng nỗi lo ngại về việc Quốc hội cố tình thiên vị một nhóm người nào đó thông qua việc điều chỉnh các quy tắc bầu cử là rất thiếu cơ sở.

Bởi lẽ, Thượng viện sẽ có động cơ gì để ủng hộ một sự thiên vị mà chính họ không được hưởng lợi? Và nếu một chính sách như vậy chỉ áp dụng đối với một viện của Quốc hội mà không thể áp dụng đối với viện còn lại, thì nó có ý nghĩa gì? Trong trường hợp đó, cơ cấu của viện này sẽ tự động kiềm chế và cân bằng với cơ cấu của viện kia.

Chúng ta cũng không thể giả định rằng việc thao túng như vậy sẽ được mở rộng sang quá trình lựa chọn Thượng viện, trừ khi đồng thời giả định rằng các cơ quan lập pháp bang sẵn sàng tự nguyện hợp tác trong kế hoạch đó. Nhưng nếu đã chấp nhận giả định ấy, thì việc quyền lực đang được bàn đến nằm trong tay các bang hay trong tay chính quyền liên bang cũng không còn khác biệt đáng kể nữa.

Nhưng giả sử Quốc hội thực sự muốn thiên vị một nhóm người nào đó, thì nhóm đó sẽ là ai?

Liệu sự thiên vị ấy sẽ hướng đến một ngành nghề cụ thể nào đó? Một loại tài sản cụ thể nào đó? Hay một tầng lớp giàu có nào đó trong xã hội?

Liệu Quốc hội sẽ ưu ái giới địa chủ? Giới tài chính? Giới thương nhân? Hay giới sản xuất công nghiệp?

Hay như cách nói quen thuộc của những người phản đối Hiến pháp, liệu chính quyền quốc gia sẽ tìm cách nâng cao địa vị của “những người giàu có và xuất thân danh giá”, đồng thời gạt bỏ và hạ thấp tất cả những tầng lớp khác trong xã hội?

Nếu giả định rằng sự thiên vị ấy sẽ xuất hiện đối với một nhóm lợi ích kinh tế nào đó, thì cuộc cạnh tranh chủ yếu sẽ diễn ra giữa hai lực lượng lớn nhất: giới sở hữu đất đai và giới thương nhân.

Tuy nhiên, tôi không ngần ngại khẳng định rằng khả năng một trong hai nhóm này giành được ảnh hưởng áp đảo trong các cơ quan quyền lực quốc gia còn thấp hơn rất nhiều so với khả năng họ thống trị trong các cơ quan lập pháp của từng bang riêng lẻ.

Từ đó có thể rút ra một kết luận đơn giản: nếu phải lo ngại về việc chính quyền thiên vị một nhóm lợi ích nào đó, thì nguy cơ ấy đáng lo ngại ở cấp bang hơn là ở cấp liên bang.

Các bang trong Liên bang có cơ cấu kinh tế rất khác nhau. Mức độ phụ thuộc vào nông nghiệp và thương mại cũng khác nhau đáng kể. Ở phần lớn các bang, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ đạo. Tuy nhiên, ở một số bang, thương mại có vị trí gần như ngang bằng với nông nghiệp; và ở hầu hết các bang còn lại, thương mại cũng có ảnh hưởng không nhỏ.

Mỗi bang sẽ mang những lợi ích kinh tế đặc thù của mình vào cơ quan đại diện quốc gia. Chính vì Quốc hội là nơi tập hợp lợi ích của nhiều bang khác nhau, với những tỷ lệ và mức độ ảnh hưởng rất khác nhau, nên nó ít có khả năng thiên vị cực đoan bất kỳ nhóm lợi ích nào hơn là cơ quan đại diện của từng bang riêng lẻ.

Trong một quốc gia mà đa số dân cư là nông dân và người sở hữu đất đai, đồng thời nguyên tắc đại diện bình đẳng được áp dụng, thì lợi ích của giới địa chủ nhìn chung sẽ luôn giữ vị trí nổi trội trong chính quyền.

Chừng nào lợi ích nông nghiệp còn chiếm ưu thế trong phần lớn các cơ quan lập pháp bang, chừng đó nó cũng sẽ tiếp tục chiếm ưu thế tương ứng trong Thượng viện liên bang, bởi Thượng viện phần lớn phản ánh tương quan lực lượng chính trị đang tồn tại tại các bang.

Vì vậy, không có lý do gì để cho rằng Thượng viện sẽ muốn hy sinh lợi ích của giới sở hữu đất đai để phục vụ lợi ích của giới thương nhân.

Tôi nhấn mạnh điều này đối với Thượng viện bởi những người tin tưởng tuyệt đối vào quyền lực của các bang thường cho rằng các cơ quan lập pháp bang không thể dễ dàng bị tác động bởi những ảnh hưởng bên ngoài.

Nhưng trên thực tế, lập luận tương tự cũng đúng đối với Hạ viện liên bang. Trong giai đoạn đầu, các đại biểu Hạ viện cũng sẽ xuất thân từ cùng một xã hội, cùng một cơ cấu kinh tế và cùng những lợi ích chủ đạo đang tồn tại trong các bang.

Do đó, cũng như ở Thượng viện, chúng ta không có lý do chính đáng để lo ngại rằng Hạ viện sẽ thiên vị một cách bất hợp lý đối với giới thương nhân hoặc bất kỳ tầng lớp đặc biệt nào khác trong xã hội.

Để phần nào làm cho lời phản đối này có vẻ hợp lý hơn, người ta có thể đặt câu hỏi ngược lại: liệu có nguy cơ chính quyền liên bang sẽ thiên vị giới sở hữu đất đai và tìm cách dành phần lớn quyền lực trong bộ máy nhà nước cho tầng lớp này hay không?

Tuy nhiên, giả thuyết đó khó có thể khiến những người bị ảnh hưởng trực tiếp cảm thấy lo lắng, nên cũng không cần phải mất quá nhiều công sức để bác bỏ nó.

Chỉ cần nêu ra ba nhận xét là đủ.

Thứ nhất, như đã phân tích ở những phần trước, khả năng Quốc hội liên bang bị chi phối bởi một sự thiên vị rõ rệt đối với bất kỳ nhóm lợi ích nào luôn thấp hơn khả năng đó xảy ra trong các cơ quan lập pháp của từng bang riêng lẻ.

Thứ hai, ngay cả nếu xét riêng lợi ích của giới sở hữu đất đai, cũng không có lý do gì để chính quyền liên bang phải vi phạm Hiến pháp nhằm ưu ái họ. Trong điều kiện tự nhiên của nước Mỹ lúc bấy giờ, tầng lớp này vốn đã chiếm vị trí nổi trội trong xã hội và có đủ ảnh hưởng chính trị để bảo vệ lợi ích của mình mà không cần đến những biện pháp đặc biệt.

Thứ ba, những người tham gia điều hành đất nước ở tầm quốc gia hẳn phải hiểu rất rõ vai trò của thương mại đối với sự thịnh vượng chung. Họ khó có thể muốn gây tổn hại nghiêm trọng đến lĩnh vực này bằng cách loại bỏ khỏi chính quyền những người hiểu rõ nhất các vấn đề thương mại và có khả năng đóng góp cho việc quản lý chúng.

Chỉ riêng tầm quan trọng của thương mại đối với nguồn thu của quốc gia cũng đủ để bảo đảm rằng Quốc hội sẽ không có lý do gì để đối xử thù địch với giới kinh doanh. Nhu cầu tài chính của chính quyền sẽ luôn nhắc nhở họ về giá trị của một nền thương mại phát triển.

Tôi không đi sâu hơn vào việc bác bỏ khả năng thiên vị giữa các ngành nghề hay các loại tài sản khác nhau, bởi theo tôi hiểu, đó không phải là điều mà những người phản đối thực sự lo ngại.

Điều họ muốn cảnh báo chúng ta là một kiểu thiên vị khác.

Theo họ, chính quyền quốc gia sẽ tìm cách nâng cao địa vị của một tầng lớp mà họ gọi là “những người giàu có và xuất thân danh giá”, đồng thời đẩy phần còn lại của xã hội xuống vị trí thấp kém hơn.

Đôi khi họ cho rằng điều này sẽ xảy ra vì số lượng đại biểu quá ít. Lúc khác, họ lại cho rằng nó sẽ được thực hiện bằng cách hạn chế khả năng tham gia bầu cử của đông đảo người dân.

Nhưng nếu thực sự muốn ưu ái tầng lớp giàu có như vậy, Quốc hội sẽ thực hiện điều đó bằng cách nào?

Liệu những người giàu và có địa vị xã hội chỉ tập trung ở một vài địa điểm nhất định trong mỗi bang hay sao? Có phải họ đều sống trong cùng một khu vực, được sắp đặt trước một cách kỳ lạ nào đó?

Hay họ chỉ xuất hiện tại các thành phố lớn?

Hay thực tế là họ phân tán khắp nơi trên đất nước, sống ở những nơi mà hoàn cảnh, cơ hội hoặc tài sản của bản thân và tổ tiên đã đưa họ đến?

Rõ ràng mọi người đều biết đáp án là trường hợp sau.

Nếu vậy, việc giới hạn địa điểm bầu cử vào một số khu vực nhất định không những không giúp ưu ái giới giàu có mà còn có thể làm thất bại chính mục tiêu ấy. Chính sách đó sẽ vừa thiếu công bằng, vừa không hiệu quả.

Sự thật là nếu ai đó thực sự muốn bảo đảm ưu thế chính trị cho người giàu, cách duy nhất là đặt ra các điều kiện về tài sản đối với cử tri hoặc ứng cử viên.

Nhưng Hiến pháp hoàn toàn không trao cho Quốc hội quyền đó.

Quyền hạn của Quốc hội chỉ giới hạn ở việc quy định thời gian, địa điểm và cách thức tổ chức bầu cử. Còn các điều kiện để được bỏ phiếu hoặc được ứng cử đã được Hiến pháp quy định rõ ràng và Quốc hội không có quyền thay đổi.

Nhưng hãy tạm giả định, chỉ để tranh luận, rằng kế hoạch thiên vị nói trên có thể thành công. Đồng thời, hãy giả định rằng những người cầm quyền đã gạt bỏ mọi ràng buộc về lương tâm, nghĩa vụ và cả nỗi lo về hậu quả chính trị để thực hiện nó.

Ngay cả trong trường hợp đó, liệu họ có thể đạt được mục tiêu của mình mà không cần đến một lực lượng quân sự đủ mạnh để khuất phục sự phản kháng của đại đa số nhân dân hay không?

Trong các bài luận trước, chúng ta đã nhiều lần chứng minh rằng khả năng xuất hiện một lực lượng như vậy là cực kỳ khó xảy ra. Nhưng để làm rõ hơn sự vô lý của nỗi lo này, hãy tạm thời chấp nhận rằng chính quyền quốc gia thực sự sở hữu một sức mạnh quân sự như thế.

Khi đó, điều gì có khả năng xảy ra hơn?

Liệu những người đã có ý định xâm phạm các quyền cơ bản của nhân dân và cũng có đủ sức mạnh để thực hiện điều đó sẽ mất công thiết kế những quy định bầu cử phức tạp chỉ để tạo lợi thế cho một tầng lớp nào đó?

Hay họ sẽ chọn con đường trực tiếp hơn nhiều?

Nếu đã sẵn sàng lạm quyền và có đủ sức mạnh trong tay, họ rất có thể sẽ tìm cách duy trì quyền lực của mình bằng một hành động chiếm đoạt công khai và dứt khoát, thay vì đặt cược vào những thủ đoạn bầu cử đầy rủi ro và không chắc chắn.

Bởi ngay cả những biện pháp tinh vi nhất cũng không bảo đảm thành công. Họ vẫn có nguy cơ bị cử tri loại bỏ khỏi quyền lực, bị mất danh dự và phải gánh chịu hậu quả từ chính những hành động của mình.

Hơn nữa, họ cũng phải hiểu rằng người dân Mỹ luôn ý thức sâu sắc về các quyền tự do của mình. Nếu những quyền đó bị xâm phạm, công dân từ khắp các bang sẽ sẵn sàng tập hợp lại để đánh bại những kẻ muốn trở thành bạo chúa và thay thế họ bằng những người quyết tâm khôi phục quyền lực chính đáng của nhân dân.

PUBLIUS


Đăng ngày

trong