Bản tiếng Anh: Rules for Radicals – A Practical Primer for Realistic Radicals.
Tác giả: Saul D. Alinsky
Dịch bởi: Nguyễn Huy Vũ
Chương 1: Mục đích
Đời người trên mặt đất là một cuộc chiến đấu…
— Sách Gióp 7:1
Những điều được trình bày dưới đây dành cho những người muốn thay đổi thế giới từ hiện trạng của nó thành hình hài mà họ tin rằng nó nên trở thành. Quân vương của Machiavelli được viết cho những kẻ đang nắm quyền lực, nhằm chỉ cho họ cách duy trì quyền lực ấy. Cẩm nang cho những người cấp tiến (Rules for Radicals) được viết cho những người không có quyền lực, nhằm chỉ cho họ cách giành lại quyền lực đó.
Cuốn sách này bàn về cách xây dựng những tổ chức quần chúng có khả năng giành lấy quyền lực và trao nó lại cho nhân dân; nhằm hiện thực hóa lý tưởng dân chủ về bình đẳng, công lý, hòa bình, hợp tác, cơ hội giáo dục đầy đủ và bình đẳng cho mọi người, việc làm hữu ích cho tất cả, chăm sóc sức khỏe, và việc tạo dựng những điều kiện để con người có thể sống theo những giá trị đem lại ý nghĩa cho cuộc đời.
Chúng ta đang nói đến việc xây dựng một tổ chức quyền lực quần chúng có khả năng biến đổi thế giới thành nơi mà mọi phụ nữ và đàn ông đều có thể ngẩng cao đầu bước đi, đúng như tinh thần của khẩu hiệu nổi tiếng trong Nội chiến Tây Ban Nha: “Thà chết đứng còn hơn sống quỳ.” Điều đó có nghĩa là: cách mạng.
Những biến đổi lớn lao trong lịch sử đều được tạo ra bởi các cuộc cách mạng. Có người cho rằng không phải cách mạng mà chính tiến hóa mới đem lại thay đổi; tuy nhiên, “tiến hóa” thực chất chỉ là thuật ngữ mà những người đứng ngoài cuộc dùng để mô tả một chuỗi các cuộc cách mạng riêng lẻ, sau khi chúng kết hợp và kết tinh thành một biến đổi xã hội lớn mang tính lịch sử.
Trong cuốn sách này, tôi đưa ra một số nhận định, luận điểm và khái niệm khái quát liên quan đến cơ chế vận hành của các phong trào quần chúng, cũng như những giai đoạn khác nhau trong chu trình hành động và phản ứng của cách mạng. Đây không phải là một cuốn sách mang tính ý thức hệ, ngoại trừ theo nghĩa rằng bất kỳ lập luận nào ủng hộ thay đổi thay vì duy trì nguyên trạng đều có thể bị xem là một hệ tư tưởng. Những con người khác nhau, ở những nơi khác nhau, trong những hoàn cảnh và thời điểm khác nhau, sẽ tự xây dựng những giải pháp và biểu tượng cứu rỗi phù hợp với thời đại của họ.
Cuốn sách này không đưa ra bất kỳ phương thuốc vạn năng hay giáo điều nào; tôi căm ghét và e ngại giáo điều. Tôi hiểu rằng mọi cuộc cách mạng đều cần có hệ tư tưởng để thúc đẩy nó tiến lên. Điều bi thảm là, trong sức nóng của xung đột, các hệ tư tưởng ấy thường bị nung chảy thành những giáo điều cứng nhắc, tự nhận mình nắm giữ chân lý duy nhất và chìa khóa dẫn tới thiên đường. Giáo điều là kẻ thù của tự do con người. Nó phải luôn bị cảnh giác và nhận diện trong mọi bước ngoặt của phong trào cách mạng.
Tinh thần con người chỉ thực sự tỏa sáng nhờ ánh sáng nhỏ bé bên trong của sự hoài nghi — sự hoài nghi rằng có thể chính mình cũng chưa hoàn toàn đúng. Trong khi đó, những kẻ tin với sự chắc chắn tuyệt đối rằng mình sở hữu chân lý lại thường tối tăm từ bên trong, và họ gieo bóng tối ấy ra thế giới bên ngoài bằng sự tàn nhẫn, đau khổ và bất công.
Những người thần thánh hóa người nghèo hay những kẻ không có quyền lực cũng mang tội lỗi giống như mọi tín đồ giáo điều khác, và nguy hiểm không kém. Để hạn chế nguy cơ hệ tư tưởng thoái hóa thành giáo điều, để bảo vệ tinh thần tự do, cởi mở, ham tìm tòi và sáng tạo của con người, đồng thời để dành chỗ cho sự thay đổi, không hệ tư tưởng nào nên cụ thể và cứng nhắc hơn lý tưởng của những người lập quốc Hoa Kỳ: “Vì phúc lợi chung.”
Niels Bohr, nhà vật lý nguyên tử vĩ đại, đã diễn đạt một cách xuất sắc lập trường văn minh trước giáo điều: “Mọi câu tôi nói ra cần được hiểu không phải như một khẳng định, mà như một câu hỏi.”
Tôi sẽ lập luận rằng hy vọng của nhân loại nằm ở việc chấp nhận quy luật lớn của sự thay đổi; rằng hiểu biết phổ quát về các nguyên lý của thay đổi sẽ cung cấp những gợi ý cho hành động hợp lý, đồng thời giúp chúng ta nhận thức rõ mối quan hệ thực tế giữa phương tiện và mục đích, cũng như cách mà mỗi bên định hình bên còn lại.
Tôi hy vọng những trang sách này sẽ góp phần giáo dục những người cấp tiến của thời đại hôm nay, và chuyển hóa những đam mê nóng bỏng, cảm tính, bốc đồng nhưng bất lực và dễ dẫn đến thất vọng thành những hành động có tính toán, có mục tiêu và có hiệu quả thực tiễn.
Một ví dụ cho thấy sự thiếu nhạy bén chính trị của nhiều “nhà cấp tiến” tự xưng ngày nay — và những cơ hội đã bị bỏ lỡ — có thể được thấy trong câu chuyện sau đây về một sự kiện diễn ra trong phiên tòa xét xử nhóm “Chicago Seven”:
Cuối tuần đó, khoảng một trăm năm mươi luật sư từ khắp nơi trên đất nước đã tập trung tại Chicago để biểu tình trước tòa nhà liên bang nhằm phản đối việc Thẩm phán Hoffman ra lệnh bắt giữ bốn luật sư. Phái đoàn này, được mười ba thành viên khoa Luật của Đại học Harvard cùng nhiều giáo sư khác ủng hộ, đã đệ trình một bản kiến nghị với tư cách “bạn của tòa án”, trong đó gọi hành động của Thẩm phán Hoffman là “một sự nhạo báng công lý, đe dọa phá hủy niềm tin của người dân Mỹ vào toàn bộ tiến trình tư pháp…” Đến khoảng mười giờ sáng, những luật sư đầy phẫn nộ bắt đầu tuần hành quanh tòa nhà liên bang. Họ nhanh chóng được hàng trăm sinh viên cấp tiến, một số thành viên của Black Panthers, cùng hơn một trăm cảnh sát Chicago đội mũ xanh tham gia hoặc bao quanh.
Gần trưa, khoảng bốn mươi luật sư mang theo biểu ngữ tiến vào sảnh của tòa nhà liên bang, bất chấp thông báo dán trên vách kính cạnh lối vào — có chữ ký của Thẩm phán Campbell — cấm tổ chức biểu tình bên trong tòa nhà. Nhưng ngay sau khi họ bước vào, chính Thẩm phán Campbell xuất hiện tại sảnh, mặc áo choàng đen, đi cùng một cảnh sát tư pháp, một nhân viên ghi biên bản và thư ký tòa án. Bị bao quanh bởi các luật sư đang tức giận — mà bên ngoài họ lại bị cảnh sát và nhân viên liên bang vây quanh — vị thẩm phán lập tức mở phiên tòa ngay tại chỗ. Ông tuyên bố rằng nếu những người biểu tình không rời đi ngay lập tức, ông sẽ truy tố họ về tội khinh thường tòa án.
Lần này, ông cảnh báo, không thể có chuyện tranh cãi rằng hành vi khinh thường diễn ra ngoài phạm vi của tòa, vì mọi việc xảy ra ngay trước mặt tòa án và do đó có thể bị xử phạt ngay lập tức.
Tuy nhiên, vừa dứt lời, một giọng nói trong đám đông hét lên:
“Đụ má ông, Campbell.” Sau vài giây im lặng căng thẳng — rồi tiếng reo hò từ đám đông và sự cứng rắn thấy rõ từ phía cảnh sát — chính Thẩm phán Campbell là người rút lui trước. Sau đó, các luật sư cũng rời khỏi sảnh và quay lại tham gia đoàn biểu tình trên vỉa hè.
— Jason Epstein, The Great Conspiracy Trial (Random House, 1970).
Những luật sư tham gia biểu tình đã đánh mất một cơ hội tuyệt vời để biến sự việc thành một vấn đề gây chấn động trên phạm vi toàn quốc. Thoạt nhìn, dường như họ có hai lựa chọn — và bất kỳ lựa chọn nào trong số đó cũng sẽ buộc vị thẩm phán phải phản ứng, đồng thời giữ cho vấn đề tiếp tục thu hút sự chú ý của công chúng.
Một là, một trong các luật sư có thể bước tới trước mặt thẩm phán sau khi có người hét lên “Đụ má ông, Campbell”, rồi tuyên bố rằng những luật sư có mặt ở đây không ủng hộ những lời lẽ thô tục mang tính công kích cá nhân, nhưng họ cũng sẽ không rời đi.
Hai là, toàn bộ các luật sư có thể đồng thanh hô lớn:
“Đụ má ông, Campbell!”
Nhưng họ đã không làm cả hai điều đó. Thay vào đó, họ để quyền chủ động chuyển từ tay mình sang tay vị thẩm phán — và cuối cùng chẳng đạt được điều gì.
Những người cấp tiến phải có khả năng phục hồi, thích nghi với các hoàn cảnh chính trị luôn thay đổi, đồng thời phải đủ nhạy bén trước tiến trình hành động và phản ứng để tránh bị mắc kẹt trong chính chiến thuật của mình và bị buộc phải đi theo con đường do người khác áp đặt. Nói ngắn gọn, những người cấp tiến phải duy trì được một mức độ kiểm soát nhất định đối với dòng chảy của các sự kiện.
Ở đây, tôi muốn trình bày một sự sắp xếp có hệ thống của một số dữ kiện và khái niệm khái quát về sự thay đổi — như một bước tiến hướng tới việc xây dựng một “khoa học về cách mạng”.
Mọi xã hội đều tìm cách ngăn cản và trừng phạt những tư tưởng hay trước tác đe dọa trật tự thống trị hiện hành. Vì vậy, không khó hiểu khi nền văn học của một xã hội do giới có quyền lực chi phối gần như là một sa mạc nếu chúng ta tìm kiếm những tác phẩm bàn về thay đổi xã hội.
Sau khi Cách mạng Mỹ kết thúc, hầu như rất ít tác phẩm đáng kể xuất hiện, ngoài quyền cách mạng được khẳng định như một quyền cơ bản trong Tuyên ngôn Độc lập; rồi bảy mươi ba năm sau mới có bài tiểu luận ngắn của Thoreau về Bổn phận bất tuân dân sự (The Duty of Civil Disobedience); tiếp đó là việc Lincoln tái khẳng định quyền cách mạng vào năm 1861.(2) Có rất nhiều mỹ từ ca ngợi tính thiêng liêng của cách mạng — nhưng đó luôn là những cuộc cách mạng của quá khứ. Sự nhiệt thành của chúng ta đối với “quyền cách mạng thiêng liêng” dường như càng gia tăng theo thời gian. Cuộc cách mạng nào càng lùi xa vào lịch sử thì càng trở nên thiêng liêng hơn trong ký ức tập thể. Ngoại trừ những nhận xét giới hạn của Thoreau, xã hội của chúng ta hầu như không để lại cho chúng ta nhiều lời khuyên hay gợi ý về cách nuôi dưỡng và thúc đẩy thay đổi xã hội.
Ngược lại, từ phía những người đang nắm giữ quyền lực lại xuất hiện một dòng chảy không ngừng của các trước tác nhằm biện minh cho hiện trạng. Những luận thuyết tôn giáo, kinh tế, xã hội, chính trị và pháp lý liên tục công kích mọi tư tưởng và hành động cách mạng, xem chúng là vô đạo đức, sai lầm, chống lại Thượng đế, tổ quốc và những giá trị thiêng liêng của xã hội.
Những “liều thuốc an thần” văn chương do trật tự hiện hữu tạo ra thường đi kèm với lời đe dọa rằng: vì các phong trào ấy bị xem là phản quốc, mang tính phá hoại, sinh ra từ địa ngục và len lỏi nguy hiểm như loài bò sát, nên bất cứ ai ủng hộ chúng đều sẽ phải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc.
Mọi cuộc cách mạng lớn trong lịch sử — bao gồm Kitô giáo, các phong trào cải cách tôn giáo, dân chủ, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội — đều từng bị gán cho những nhãn hiệu như thế vào thời kỳ khai sinh của mình. Đối với một trật tự hiện hữu luôn lo lắng về hình ảnh công chúng của mình, cách mạng là lực lượng duy nhất không có “hình ảnh” cố định; thay vào đó, nó hiện lên như một cái bóng đen đầy điềm gở báo hiệu những điều sắp tới.
Những người không có quyền lực trên thế giới, đang bị cuốn vào các biến động của thời đại và tuyệt vọng tìm kiếm tài liệu về cách mạng, thường chỉ có thể tìm thấy loại tài liệu đó từ những người cộng sản — cả “đỏ” lẫn “vàng”. Chính ở đó, họ đọc được về chiến thuật, sách lược, chiến lược và các nguyên tắc hành động trong quá trình tiến hành cách mạng. Vì toàn bộ những ý tưởng ấy được trình bày trong ngôn ngữ của chủ nghĩa cộng sản, nên cách mạng dần bị đồng nhất với chủ nghĩa cộng sản.(3)
Khi những người không có quyền lực, trong cơn sôi sục cách mạng của mình, khao khát hướng về phía chúng ta trong những bước đầu tiên thoát khỏi cảnh đói khổ để tiến tới mức sống tối thiểu, thì điều họ nhận lại chỉ là một mớ hỗn độn khó hiểu, phi thực tế và vô nghĩa gồm những khái niệm trừu tượng về tự do, đạo đức, bình đẳng và mối nguy của việc bị nô dịch về tư tưởng bởi hệ tư tưởng cộng sản. Đi kèm với đó là những khoản viện trợ từ thiện được gói ghém bằng các dải ruy băng đạo đức và “tự do”, nhưng lại đính kèm cái giá là lòng trung thành chính trị tuyệt đối dành cho chúng ta. Sau các cuộc cách mạng ở Nga và Trung Quốc, chúng ta đột nhiên trải qua một cuộc “cải đạo” về mặt đạo đức và bắt đầu quan tâm đến phúc lợi của những người anh em trên khắp thế giới. Những cuộc cách mạng của những người không có quyền lực thường có tác dụng đánh thức lương tâm đạo đức nơi những kẻ đang nắm quyền lực.
Các cuộc cách mạng của những người không có quyền lực cũng làm nảy sinh một nỗi sợ mang tính hoang tưởng. Vì vậy, ngày nay chúng ta thấy các chính phủ tham nhũng và đàn áp trên khắp thế giới liên tục nói với chúng ta rằng: “Hãy cho chúng tôi tiền bạc và binh lính, nếu không sẽ có cách mạng, và những kẻ lên nắm quyền sau đó sẽ trở thành kẻ thù của các ông.”
Vì sợ hãi cách mạng và tự đồng nhất mình với trật tự hiện hữu, chúng ta đã mặc nhiên để cho những người cộng sản chiếm lấy “vầng hào quang cách mạng” như thể họ là lực lượng duy nhất đại diện cho công lý của những người không có quyền lực. Sau đó, chúng ta lại tiếp tục mắc sai lầm khi cho rằng mọi hiện trạng trên thế giới đều phải được bảo vệ và củng cố để chống lại cách mạng.
Ngày nay, cách mạng gần như đã trở thành từ đồng nghĩa với chủ nghĩa cộng sản, trong khi chủ nghĩa tư bản lại bị đồng nhất với việc bảo vệ nguyên trạng. Thỉnh thoảng, chúng ta chấp nhận một cuộc cách mạng — nhưng chỉ khi chắc chắn rằng nó đứng về phía mình, và thường chỉ khi nhận ra rằng cuộc cách mạng ấy là điều không thể tránh khỏi. Chúng ta căm ghét cách mạng.
Chúng ta đã để mặc cho một tình trạng mang tính tự sát hình thành, trong đó cách mạng và chủ nghĩa cộng sản bị xem là một. Những trang sách này được viết ra nhằm “tách nguyên tử chính trị” đó — nhằm phá vỡ sự đồng nhất độc quyền giữa cách mạng và chủ nghĩa cộng sản.
Nếu những người không có quyền lực trên thế giới có thể nhận ra và chấp nhận rằng cách mạng không tất yếu đồng nghĩa với hận thù hay chiến tranh — dù là chiến tranh nóng hay Chiến tranh Lạnh — chống lại Hoa Kỳ, thì chỉ riêng điều đó thôi cũng đã là một cuộc cách mạng lớn trong chính trị thế giới và trong tương lai của nhân loại.
Đó là một trong những lý do quan trọng khiến tôi cố gắng viết nên một cuốn cẩm nang cách mạng không bị đúc theo khuôn mẫu cộng sản hay tư bản chủ nghĩa, mà là một cuốn sổ tay dành cho những người không có quyền lực trên toàn thế giới, bất kể màu da hay quan điểm chính trị của họ.
Mục tiêu của tôi ở đây là gợi mở cách tổ chức để giành lấy quyền lực: làm thế nào để có được quyền lực và sử dụng nó. Tôi sẽ lập luận rằng sự thất bại trong việc sử dụng quyền lực để tạo ra sự phân phối công bằng hơn các điều kiện sống cho mọi người chính là dấu hiệu báo trước của sự kết thúc của cách mạng và sự khởi đầu của quá trình phản cách mạng.
Các cuộc cách mạng từ trước đến nay luôn tiến lên với một “mũi giáo ý thức hệ”, cũng như trật tự hiện hữu luôn khắc hệ tư tưởng của mình lên chiếc khiên phòng thủ. Toàn bộ đời sống đều mang tính phe phái; không tồn tại cái gọi là tính khách quan hoàn toàn vô tư. Tuy nhiên, hệ tư tưởng cách mạng không bị giới hạn trong một công thức cứng nhắc và khép kín nào. Nó là một tập hợp các nguyên lý khái quát, bắt nguồn từ tuyên bố của Abraham Lincoln ngày 19 tháng 5 năm 1856: “Đừng tự đánh lừa mình. Các cuộc cách mạng không bao giờ quay ngược trở lại.”
HỆ TƯ TƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI
Điều này dẫn tới một câu hỏi rằng hệ tư tưởng của tôi, nếu có, là gì? Một người tổ chức hoạt động trong xã hội và vì một xã hội tự do có thể sở hữu những hệ tư tưởng nào?
Điều kiện tiên quyết của mọi hệ tư tưởng là niềm tin vào một chân lý nền tảng. Chẳng hạn, một người Marxist bắt đầu từ chân lý cốt lõi rằng mọi tệ nạn đều bắt nguồn từ sự bóc lột giai cấp vô sản bởi giai cấp tư sản. Từ đó, họ đi đến kết luận logic về cách mạng nhằm chấm dứt chủ nghĩa tư bản, tiếp theo là giai đoạn tái tổ chức xã hội thành một trật tự mới — nền chuyên chính vô sản — và cuối cùng là giai đoạn sau hết: thiên đường chính trị của chủ nghĩa cộng sản.
Những người Kitô giáo cũng khởi đầu từ chân lý nền tảng của mình: tính thần thánh của Chúa Kitô và bản chất tam vị nhất thể của Thượng đế. Từ những “chân lý cốt lõi” ấy, một hệ tư tưởng từng bước được hình thành.
Tuy nhiên, một người tổ chức hoạt động trong một xã hội mở và vì một xã hội mở lại rơi vào thế lưỡng nan về mặt ý thức hệ. Trước hết, người đó không sở hữu một chân lý cố định nào cả — đối với họ, chân lý luôn mang tính tương đối và luôn thay đổi; mọi thứ đều là tương đối và biến đổi không ngừng. Họ là một người theo chủ nghĩa tương đối chính trị.
Họ chấp nhận nhận định của cố Thẩm phán Learned Hand rằng:
“Dấu hiệu của một con người tự do là sự bất an nội tâm luôn gặm nhấm về việc liệu mình có thực sự đúng hay không.”
Hệ quả là, họ luôn không ngừng truy tìm nguyên nhân của những khốn khổ mà con người phải chịu đựng, cũng như những luận đề khái quát có thể giúp lý giải phần nào thế giới phi lý mà con người đang sống.
Họ phải liên tục khảo sát đời sống — kể cả chính đời sống của mình — để hiểu được phần nào ý nghĩa của nó, đồng thời phải luôn chất vấn và kiểm nghiệm những kết luận mà mình đạt được. Tinh thần hoài nghi đối với mọi điều thiêng liêng hay bất khả chất vấn — điều kiện thiết yếu của việc truy vấn — trở thành phẩm chất bắt buộc. Sự tò mò trở thành một thôi thúc gần như cưỡng bách. Từ mà họ sử dụng thường xuyên nhất là: “Tại sao?”(4)
Vậy điều đó có nghĩa rằng một người tổ chức hoạt động trong một xã hội tự do và vì một xã hội tự do là kẻ không có phương hướng hay sao? Không. Tôi tin rằng họ thực ra có ý thức về phương hướng và định hướng tốt hơn nhiều so với những người tổ chức xã hội trong một xã hội khép kín với hệ tư tưởng chính trị cứng nhắc của mình.
Trước hết, người tổ chức trong xã hội tự do có tính linh hoạt, khả năng thích ứng, mềm dẻo và luôn vận động trong một xã hội vốn bản thân nó cũng đang không ngừng thay đổi. Chính vì không bị xiềng xích bởi giáo điều, họ có thể phản ứng trước thực tế của những hoàn cảnh vô cùng đa dạng mà xã hội đặt ra.
Sau cùng, họ vẫn có một niềm tin nền tảng: niềm tin rằng nếu con người có quyền lực để hành động, thì về lâu dài, trong phần lớn trường hợp, họ sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn. Giải pháp thay thế khác cho niềm tin ấy chỉ có thể là sự cai trị của giới tinh hoa — hoặc dưới hình thức độc tài, hoặc dưới một dạng quý tộc chính trị nào đó. Tôi không bận tâm nếu niềm tin vào con người này bị xem là một “chân lý cốt lõi”, và do đó mâu thuẫn với những điều tôi đã viết trước đó, bởi bản thân đời sống vốn là một câu chuyện đầy những nghịch lý.
Tin vào con người, người cấp tiến có nhiệm vụ tổ chức họ để họ có được quyền lực và cơ hội nhằm ứng phó tốt nhất với từng cuộc khủng hoảng không thể lường trước trong tương lai, khi họ tiếp tục tiến bước trong cuộc tìm kiếm bất tận đối với những giá trị như bình đẳng, công lý, tự do, hòa bình, sự trân trọng sâu sắc đối với tính thiêng liêng của sinh mạng con người, cùng toàn bộ những quyền và giá trị được truyền thống Do Thái–Kitô giáo và truyền thống dân chủ đề cao.
Dân chủ không phải là cứu cánh cuối cùng, mà là phương tiện tốt nhất để đạt tới những giá trị ấy. Đó là niềm tin mà tôi sống vì nó, và nếu cần, cũng sẵn sàng chết vì nó.
Điều kiện cơ bản để hiểu được chính trị của sự thay đổi là phải nhìn nhận thế giới đúng như nó vốn có. Nếu muốn biến đổi thế giới thành hình hài mà chúng ta mong muốn, thì trước hết chúng ta phải làm việc với nó theo chính những điều kiện hiện hữu của nó.
Chúng ta phải nhìn thế giới như nó đang là, chứ không phải như điều mà chúng ta muốn nó trở thành. Chúng ta phải nhìn thế giới theo cách mà mọi nhà hiện thực chính trị từng nhìn nhận: xét theo “những gì con người thực sự làm, chứ không phải những gì họ nên làm”, như Machiavelli và nhiều người khác từng nói.
Việc hoàn toàn chấp nhận sự thật đơn giản rằng con người luôn phải bắt đầu từ chính vị trí hiện tại của mình là điều đau đớn; rằng ta phải thoát ra khỏi mạng lưới ảo tưởng mà chính mình đã dệt nên quanh cuộc sống.
Phần lớn chúng ta nhìn thế giới không phải như nó vốn là, mà như điều chúng ta mong nó trở thành. Thế giới lý tưởng ấy có thể được nhìn thấy mỗi tối trên truyền hình, trong hàng loạt chương trình mà cái thiện luôn chiến thắng — ít nhất cho tới khi bản tin thời sự khuya bắt đầu, và chúng ta đột ngột bị kéo trở lại với thế giới đúng như nó thực sự tồn tại.(5)
Những người theo chủ nghĩa hiện thực chính trị nhìn thế giới đúng như nó vốn là: một đấu trường của quyền lực chính trị, vận hành chủ yếu bởi những lợi ích trước mắt mà con người tự nhận thức được cho bản thân mình; nơi đạo đức thường chỉ đóng vai trò như lớp ngôn từ biện minh cho hành động mang tính cơ hội và tư lợi.
Có thể lấy hai ví dụ. Một vị linh mục muốn trở thành giám mục nên tìm cách xu nịnh và vận động chính trị để thăng tiến, đồng thời tự biện minh rằng: “Khi đã trở thành giám mục, tôi sẽ sử dụng chức vụ của mình để cải cách Kitô giáo.” Hoặc một doanh nhân tự nhủ: “Trước tiên tôi sẽ kiếm một triệu đôla, rồi sau đó mới theo đuổi những giá trị thực sự của cuộc đời.”
Đáng tiếc là, trên con đường tiến tới chức giám mục hay triệu đôla đầu tiên ấy, con người thường thay đổi theo nhiều cách. Rồi họ lại nói:
“Đợi đến khi tôi trở thành hồng y thì tôi sẽ có ảnh hưởng lớn hơn,”
hoặc: “Sau khi kiếm được hai triệu đôla, tôi sẽ làm được nhiều điều hơn nữa.” Và cứ thế tiếp diễn.(6)
Đó là một thế giới nơi luật pháp được viết ra với mục tiêu cao đẹp là “phục vụ lợi ích chung”, nhưng khi đi vào thực tế lại được vận hành dựa trên lòng tham chung. Một thế giới mà tính phi lý bám lấy con người như cái bóng của chính họ, đến mức những điều đúng đắn thường được thực hiện vì những động cơ sai lầm — rồi sau đó người ta mới đào bới ra những lý do cao đẹp để biện minh.
Đây không phải là thế giới của các thiên thần, mà là thế giới của những “góc cạnh” và toan tính; nơi con người nói về các nguyên tắc đạo đức nhưng hành động theo nguyên tắc quyền lực; nơi chúng ta luôn tự xem mình là đạo đức còn kẻ thù thì luôn vô đạo đức; nơi “hòa giải” thực chất có nghĩa là một bên giành được quyền lực còn bên kia chấp nhận phục tùng quyền lực ấy, và thế là người ta gọi đó là hòa giải.
Đó cũng là thế giới của các thiết chế tôn giáo mà nhìn chung đã đi đến chỗ bảo vệ và biện minh cho trật tự hiện hữu, đến mức ngày nay tôn giáo có tổ chức có thể sung túc về vật chất nhưng lại phá sản về tinh thần.
Chúng ta đang sống với một nền đạo đức Do Thái–Kitô giáo vốn không chỉ thích nghi với chế độ nô lệ, chiến tranh và mọi hình thức bóc lột con người khác của các trật tự hiện hành, mà đôi khi còn biện minh cho chúng.
Chúng ta sống trong một thế giới mà cái gọi là “thiện” nhiều khi chỉ là giá trị phụ thuộc vào việc chúng ta có mong muốn nó hay không. Trong thế giới thực tại ấy, việc giải quyết một vấn đề gần như sẽ tạo ra một vấn đề mới.
Trong thế giới đúng như nó vốn là, không tồn tại những kết thúc hạnh phúc hay bi thảm vĩnh viễn. Những kiểu kết thúc đó thuộc về thế giới tưởng tượng — thế giới như chúng ta mong muốn nó trở thành — thế giới của truyện cổ tích thiếu nhi, nơi “mọi người sống hạnh phúc mãi mãi về sau”.
Còn trong thế giới thực, dòng chảy của các sự kiện luôn cuồn cuộn tiếp diễn không ngừng, với cái chết là điểm kết thúc duy nhất. Không ai thực sự chạm tới đường chân trời; nó luôn ở phía xa hơn một chút, không ngừng vẫy gọi con người tiến về phía trước. Chính sự theo đuổi ấy là bản thân đời sống.
Đó là thế giới thực tại. Và đó là nơi bạn phải bắt đầu.
Đây không phải là một thế giới của hòa bình, cái đẹp và lý tính vô tư tuyệt đối, mà đúng như Henry James từng viết: “Đời sống, thực chất, là một cuộc chiến. Cái ác thì ngạo mạn và mạnh mẽ; cái đẹp quyến rũ nhưng hiếm hoi; điều thiện thường yếu đuối; sự ngu xuẩn thường ngang ngược; cái xấu xa thường giành phần thắng; những kẻ đần độn lại nắm giữ địa vị cao, còn người sáng suốt ở những vị trí thấp; và nhìn chung nhân loại sống trong bất hạnh. Nhưng thế giới như nó đang tồn tại không phải là một ảo ảnh tầm thường, không phải bóng ma, cũng không phải cơn ác mộng của đêm tối; chúng ta luôn thức dậy và lại phải đối diện với nó, mãi mãi; chúng ta không thể quên nó, phủ nhận nó hay thoát khỏi nó.”
Nhận định của Henry James là sự khẳng định lại lời trong Sách Gióp:
“Đời người trên mặt đất là một cuộc chiến đấu…” Disraeli thì diễn đạt ngắn gọn hơn: “Đời sống chính trị phải được chấp nhận đúng như nó vốn có.”
Một khi đã bước vào thế giới đúng như nó vốn là, chúng ta bắt đầu lần lượt gạt bỏ hết ngộ nhận này đến ngộ nhận khác. Ảo tưởng đầu tiên mà chúng ta phải từ bỏ là cách nhìn thông thường cho rằng mọi sự vật tồn tại tách biệt khỏi mặt đối lập tất yếu của nó.
Về mặt trí tuệ, chúng ta đều biết rằng mọi thứ đều liên hệ chức năng với nhau; nhưng trong thực tiễn, chúng ta lại có xu hướng phân tách và cô lập các giá trị cũng như các vấn đề. Thực chất, mọi thứ quanh ta đều phải được nhìn nhận như những cặp không thể tách rời khỏi mặt đối lập của mình: ánh sáng và bóng tối, thiện và ác, sống và chết. Ngay từ khoảnh khắc chúng ta sinh ra, quá trình đi tới cái chết cũng đồng thời bắt đầu.
Hạnh phúc và khổ đau là hai mặt không thể tách rời. Hòa bình và chiến tranh cũng vậy. Mối đe dọa hủy diệt từ năng lượng hạt nhân đồng thời cũng chứa đựng khả năng mang lại hòa bình và sung túc. Và điều đó đúng với mọi thành tố của vũ trụ này: tất cả đều tồn tại thành từng cặp trong “con thuyền Noah khổng lồ” của đời sống.
Cuộc sống dường như không có vần điệu, lý do hay thậm chí một chút trật tự nào nếu chúng ta không tiếp cận nó bằng “chiếc chìa khóa của các mặt đối lập”. Khi nhìn mọi thứ trong tính nhị nguyên của chúng, chúng ta mới bắt đầu nhận ra đôi chút manh mối về phương hướng và ý nghĩa của đời sống.
Chính trong những mâu thuẫn ấy, và trong sự căng thẳng tương tác không ngừng giữa chúng, mà tính sáng tạo bắt đầu xuất hiện. Khi dần chấp nhận khái niệm về mâu thuẫn, chúng ta bắt đầu nhìn mỗi vấn đề hay mỗi câu hỏi trong tính toàn thể và liên hệ qua lại của nó. Khi đó, chúng ta nhận ra rằng với mỗi mặt tích cực luôn tồn tại một mặt tiêu cực tương ứng,(7) rằng không có điều tích cực nào tồn tại mà không đi kèm với mặt đối lập của nó, cũng như không có “thiên đường chính trị” nào lại không mang theo phần bóng tối của riêng mình.
Niels Bohr từng chỉ ra rằng sự xuất hiện của các mâu thuẫn là dấu hiệu cho thấy thí nghiệm đang đi đúng hướng: “Sẽ không còn nhiều hy vọng nếu chúng ta chỉ có một khó khăn; nhưng khi có hai khó khăn, ta có thể đặt chúng đối trọng với nhau.” Bohr gọi hiện tượng này là “tính bổ sung” (complementarity), nghĩa là sự tương tác giữa các lực lượng hay các mặt đối lập tưởng chừng xung đột thực chất lại tạo nên sự hài hòa của tự nhiên. Whitehead cũng từng nhận xét tương tự: “Trong logic hình thức, mâu thuẫn là dấu hiệu của thất bại; nhưng trong quá trình tiến hóa của tri thức thực sự, nó lại đánh dấu bước đầu tiên hướng tới chiến thắng.”
Dù nhìn vào đâu, mọi sự thay đổi đều cho thấy tính “bổ sung” ấy giữa các mặt đối lập. Ở Chicago, những con người trong The Jungle (Rừng) của Upton Sinclair — khi đó là khu ổ chuột tồi tệ nhất nước Mỹ — bị nghiền nát bởi đồng lương chết đói ngay cả khi có việc làm, suy sụp về tinh thần, bệnh tật và chen chúc trong những căn nhà mục nát, cuối cùng đã được tổ chức lại thành phong trào. Trên các biểu ngữ của họ là những khẩu hiệu về bình đẳng chủng tộc, bảo đảm việc làm và một cuộc sống tử tế cho tất cả mọi người. Với sức mạnh tập thể của mình, họ đã đấu tranh và giành chiến thắng.
Thế nhưng ngày nay, khi đã trở thành một phần của tầng lớp trung lưu, họ đồng thời cũng trở thành một phần của chính nền văn hóa phân biệt chủng tộc và kỳ thị mà trước kia họ từng chống lại.
Cơ quan Quản lý Thung lũng Tennessee (Tennessee Valley Authority – TVA) từng được xem là một trong những viên ngọc quý của nền dân chủ Mỹ. Người ta từ khắp nơi trên thế giới đổ về để chiêm ngưỡng, ca ngợi và nghiên cứu thành tựu xã hội và kỹ thuật này của một xã hội tự do. Nhưng ngày nay, chính TVA lại trở thành tai họa của vùng núi Cumberland, khi tiến hành khai thác than lộ thiên và tàn phá cảnh quan thiên nhiên.
Nghiệp đoàn Công nghiệp Hoa Kỳ (C.I.O.) từng là lực lượng chiến đấu quyết liệt nhất cho quyền lợi của người lao động Mỹ. Trong hàng ngũ của tổ chức này — trực tiếp hoặc gián tiếp — có mặt hầu hết những người cấp tiến ở Hoa Kỳ; họ từng đấu tranh chống lại cấu trúc quyền lực doanh nghiệp của quốc gia và đã chiến thắng. Thế nhưng ngày nay, sau khi sáp nhập với Liên đoàn Lao động Mỹ (A.F. of L.), tổ chức này lại trở thành một bộ phận ăn sâu trong chính hệ thống cầm quyền, còn lãnh đạo của họ thì công khai ủng hộ cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Một ví dụ khác là các khu nhà ở công cộng cao tầng ngày nay. Ban đầu, chúng được hình dung và xây dựng như những bước tiến lớn nhằm xóa bỏ các khu ổ chuột trong thành phố: những dãy nhà mục nát đầy chuột bọ bị phá bỏ để nhường chỗ cho các khu căn hộ hiện đại. Người ta ca ngợi đó là minh chứng cho quyết tâm của nước Mỹ không để người dân phải sống trong cảnh nhếch nhác của các khu ổ chuột.
Nhưng giờ đây, ai cũng biết rằng nhiều khu nhà ấy đã biến thành những “khu rừng bê tông” đầy kinh hoàng, đến mức xã hội phải đối mặt với câu hỏi làm thế nào để cải tạo hoặc loại bỏ chúng. Chúng đã trở thành những không gian bị cô lập kép — vừa theo giai cấp kinh tế, vừa theo chủng tộc — và là nơi nguy hiểm đối với bất kỳ ai buộc phải sinh sống ở đó. Một giấc mơ đẹp đẽ và đầy tính tích cực cuối cùng lại phát triển thành một cơn ác mộng tiêu cực.
Đó là câu chuyện phổ quát của cách mạng và phản cách mạng. Đó là cuộc đấu tranh không ngừng giữa mặt tích cực và mặt đối lập tiêu cực của nó — bao gồm cả sự đảo ngược vai trò, nơi cái tích cực của hôm nay có thể trở thành cái tiêu cực của ngày mai, và ngược lại.
Cách nhìn này về tự nhiên thừa nhận rằng thực tại mang tính nhị nguyên. Những nguyên lý của cơ học lượng tử trong vật lý còn được thể hiện rõ nét hơn trong cơ chế vận động của các phong trào quần chúng. Điều này không chỉ đúng với khái niệm “tính bổ sung” (complementarity), mà còn ở việc bác bỏ quan niệm nhân quả từng được xem là phổ quát trước đây — quan niệm cho rằng vật chất và các hiện tượng vật lý có thể được giải thích đơn thuần theo quan hệ nguyên nhân–kết quả, trong đó mỗi kết quả đều phải có nguyên nhân xác định và nguyên nhân ấy tất yếu tạo ra kết quả tương ứng.
Trong cơ học lượng tử, tính nhân quả phần lớn được thay thế bằng xác suất: một electron hay nguyên tử không nhất thiết phải phản ứng theo một cách cố định trước một lực tác động cụ thể; thay vào đó tồn tại một tập hợp các khả năng xác suất rằng nó có thể phản ứng theo cách này hoặc cách khác.
Điều này có ý nghĩa nền tảng đối với những quan sát và luận điểm được trình bày sau đây. Trong bất kỳ cuộc thảo luận hay phân tích nào về các phong trào quần chúng, chiến thuật hay bất kỳ khía cạnh nào khác của vấn đề, không thể khẳng định chắc chắn rằng: “Nếu làm điều này thì chắc chắn sẽ dẫn đến kết quả kia.” Điều tốt nhất mà chúng ta có thể đạt được chỉ là sự hiểu biết về những khả năng có xác suất xảy ra sau một hành động nhất định.
Việc nắm bắt được tính nhị nguyên của mọi hiện tượng là điều sống còn để hiểu chính trị. Nó giải phóng con người khỏi huyền thoại cho rằng có một phương pháp nào đó hoàn toàn “tích cực”, còn phương pháp khác thì hoàn toàn “tiêu cực”. Trong đời sống, không tồn tại những sự phân chia đơn giản như thế.
Điều được một người xem là tích cực có thể lại bị người khác xem là tiêu cực. Việc mô tả một thủ tục hay chiến lược chính trị nào đó đơn giản là “tích cực” hay “tiêu cực” thực chất là dấu hiệu của một sự non nớt về nhận thức chính trị.
Một khi bản chất của cách mạng được hiểu từ góc nhìn nhị nguyên, chúng ta sẽ từ bỏ cách nhìn đơn tuyến về cách mạng và bắt đầu nhận ra rằng nó luôn đi kèm với phản cách mạng như một hệ quả tất yếu.
Khi đã chấp nhận và học cách dự liệu trước phản cách mạng như điều không thể tránh khỏi, chúng ta mới có thể tìm cách thay đổi quy luật lịch sử quen thuộc của cách mạng và phản cách mạng — vốn thường tiến theo kiểu “hai bước tiến, một bước lùi” — bằng cách giảm thiểu phần thoái lui ấy.
Mỗi yếu tố, với mặt tích cực và mặt đối lập của nó, lại liên kết với những yếu tố khác trong một chuỗi vô tận của mọi sự vật. Vì vậy, mặt đối lập của cách mạng ở một phía là phản cách mạng, nhưng ở phía khác lại là cải cách, và cứ thế tiếp tục trong một chuỗi bất tận của các cặp đối lập liên kết với nhau.
PHÂN TẦNG GIAI CẤP: BỘ BA QUYỀN LỰC
Bối cảnh của vở kịch mang tên “thay đổi xã hội” chưa bao giờ thực sự thay đổi. Nhân loại từ trước đến nay luôn được chia thành ba nhóm: những người có mọi thứ (the Haves), những người không có gì (the Have-Nots), và những người có một ít nhưng muốn nhiều hơn nữa (the Have-a-Little, Want Mores).
Ở đỉnh cao là những người có quyền lực, tiền bạc, lương thực, an ninh và xa hoa. Họ bị chính sự dư thừa của mình làm cho ngột ngạt, trong khi những người không có gì lại chết đói. Về số lượng, giới có quyền lực luôn là thiểu số. Họ muốn duy trì mọi thứ như hiện tại và phản đối thay đổi. Nếu dùng ngôn ngữ “nhiệt chính trị”, họ là lực lượng lạnh giá, quyết tâm đóng băng nguyên trạng.
Ở đáy xã hội là những người không có quyền lực trên toàn thế giới. Trên bình diện quốc tế, họ chiếm số đông áp đảo. Họ bị xích lại với nhau bởi những khốn khổ chung: nghèo đói, nhà ở tồi tàn, bệnh tật, thiếu hiểu biết, bất lực về chính trị và tuyệt vọng. Ngay cả khi có việc làm, họ cũng nhận mức lương thấp nhất và bị tước đoạt trong hầu hết các lĩnh vực căn bản cần thiết cho sự phát triển của con người.
Bị giam hãm bởi màu da, địa vị xã hội hay thân phận chính trị, họ bị tước mất cơ hội đại diện cho chính mình trong đời sống chính trị. Nếu giới có quyền lực muốn giữ lấy những gì mình đang có, thì những người không có quyền lực lại muốn giành lấy thứ họ thiếu.
Xét theo “nhiệt chính trị”, họ giống như một đống tro lạnh của sự cam chịu và định mệnh luận; nhưng sâu bên trong vẫn còn những đốm than hy vọng âm ỉ, có thể được thổi bùng lên thông qua việc xây dựng các phương tiện giành lấy quyền lực. Một khi cơn sốt bắt đầu, ngọn lửa sẽ bùng cháy theo sau. Họ không còn con đường nào khác ngoài việc đi lên.
Họ căm ghét trật tự của giới có quyền lực — với sự giàu sang ngạo mạn, cảnh sát, tòa án và nhà thờ của nó. Công lý, đạo đức, luật pháp và trật tự, khi được giới có quyền lực viện dẫn, đối với họ chỉ là những ngôn từ dùng để biện minh và bảo vệ nguyên trạng.
Sức mạnh của những người không có quyền lực chỉ nằm ở số đông của họ. Người ta từng nói rằng giới có quyền lực, sống trong nỗi ám ảnh về nguy cơ bị tước đoạt tài sản, luôn bị ám ảnh bởi câu hỏi:
“Khi nào chúng ta mới có thể ngủ yên?” Trong khi câu hỏi muôn thuở của những người không có quyền lực lại là: “Khi nào chúng ta mới được ăn?”
Tiếng kêu của những người không có quyền lực chưa bao giờ là: “Hãy trao cho chúng tôi trái tim của các người,” mà luôn là: “Hãy bước khỏi lưng chúng tôi.” Điều họ đòi hỏi không phải là tình yêu thương, mà là không gian để được thở.
Nằm giữa giới-có-mọi-thứ và những người-không-có-gì là tầng lớp “có một ít nhưng muốn nhiều hơn nữa” — tức tầng lớp trung lưu. Bị giằng xé giữa một bên là mong muốn bảo vệ nguyên trạng để giữ lấy chút ít mình đang có, và bên kia là khát vọng thay đổi để đạt được nhiều hơn, họ trở thành những con người mang tâm thế phân đôi. Có thể xem họ như những “người phân liệt” về mặt xã hội, kinh tế và chính trị.
Thông thường, họ tìm kiếm con đường an toàn — nơi họ có thể hưởng lợi từ thay đổi nhưng không phải mạo hiểm đánh mất những gì mình đang sở hữu. Trong ván bài cách mạng, họ luôn muốn cầm ít nhất “ba lá át chủ bài” rồi mới chịu đặt cược. Xét theo “nhiệt chính trị”, họ ở trạng thái nguội lạnh và trì trệ.
Ngày nay, trong các xã hội phương Tây, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, tầng lớp này chiếm đa số dân cư.
Tuy nhiên, chính trong những xung đột lợi ích và những mâu thuẫn nội tại của tầng lớp “có một ít nhưng muốn nhiều hơn nữa” lại nảy sinh nguồn gốc của tính sáng tạo. Phần lớn những nhà lãnh đạo vĩ đại tạo ra sự thay đổi lớn trên thế giới trong nhiều thế kỷ qua đều xuất thân từ tầng lớp này — ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi — như Moses, Paul thành Tarsus, Martin Luther, Robespierre, Georges Danton, Samuel Adams, Alexander Hamilton, Thomas Jefferson, Napoleon Bonaparte, Giuseppe Garibaldi, Vladimir Lenin, Mahatma Gandhi, Fidel Castro, Mao Trạch Đông và nhiều người khác.
Nhưng cũng chính sự xung đột lợi ích trong tầng lớp này lại sinh ra một kiểu người đặc biệt khác: những kẻ bị tê liệt bởi các lợi ích chồng chéo và cuối cùng không làm gì cả.
Những “kẻ không hành động” ấy thường tuyên bố rằng mình cam kết với công lý xã hội, bình đẳng và cơ hội cho mọi người, nhưng rồi lại né tránh hoặc cản trở mọi hành động thực sự hiệu quả nhằm tạo ra thay đổi. Họ thường được nhận diện qua câu nói quen thuộc: “Tôi đồng ý với mục tiêu của anh, nhưng không đồng ý với phương pháp của anh.”
Bất cứ khi nào có thể, họ hoạt động như những tấm chăn phủ lên các tia lửa bất đồng đang có nguy cơ bùng phát thành ngọn lửa hành động. Trước công chúng, những “kẻ không hành động” này thường xuất hiện như những con người tử tế, nhân đạo, quan tâm tới công lý và phẩm giá. Nhưng trên thực tế, họ lại mang tính phá hoại ngấm ngầm.
Chính những người này là đối tượng mà Edmund Burke nhắc tới khi cay đắng nói rằng: “Điều duy nhất cần thiết để cái ác chiến thắng là những người tốt không làm gì cả.”
Trong những trang sách này, cả các nhà cách mạng — những người hành động — lẫn những “kẻ không hành động” sẽ đều được xem xét.
Lịch sử của các trật tự thống trị cho thấy sự mục ruỗng và suy đồi thường len lỏi vào chủ nghĩa vật chất xa hoa của giới có quyền lực. Đời sống tinh thần của họ dần biến thành một nghi thức nhằm biện minh cho chính những đặc quyền và tài sản mà họ sở hữu.
Hơn một trăm năm trước, Tocqueville — cũng như nhiều học giả nghiên cứu nước Mỹ thời đó — đã nhận xét rằng sự hưởng thụ ích kỷ đi kèm với việc chỉ quan tâm đến phúc lợi vật chất cá nhân chính là mối đe dọa lớn nhất đối với tương lai của Hoa Kỳ. Whitehead cũng từng viết trong Adventures of Ideas (Những cuộc phiêu lưu của những ý tưởng) rằng: “Việc tận hưởng quyền lực là điều gây chết người đối với những tinh tế của đời sống. Các giai cấp thống trị suy đồi vì sự buông thả lười biếng trong những khoái lạc hiển nhiên.” Trong trạng thái ấy, có thể nói con người đã rơi vào giấc ngủ, bởi chính trong giấc ngủ mà mỗi người quay lưng lại với thế giới xung quanh để chìm vào thế giới riêng của mình.(8) Tôi xin dẫn thêm một cuốn sách khác có liên quan đến chủ đề này. Trong Alice ở xứ sở thần tiên (Alice in Wonderland), Tiger-Lily giải thích với Alice về những bông hoa biết nói. Tiger-Lily chỉ ra rằng những bông hoa biết nói mọc lên từ những luống đất cứng, còn: “Trong hầu hết các khu vườn,” Tiger-Lily nói, “người ta làm luống quá mềm, nên hoa lúc nào cũng ngủ.” Dường như có một quy luật lớn của sự thay đổi là nó luôn chuẩn bị trước trạng thái mê ngủ của nạn nhân trước khi cuộc “phẫu thuật xã hội” bắt đầu diễn ra.
Thay đổi đồng nghĩa với vận động. Vận động đồng nghĩa với ma sát. Chỉ trong môi trường chân không không ma sát của một thế giới trừu tượng không tồn tại thì vận động hay thay đổi mới có thể diễn ra mà không kéo theo sự cọ xát khắc nghiệt của xung đột.
Trong những trang sách này, mục đích chính trị công khai của chúng ta là hợp tác với quy luật lớn của sự thay đổi; mong muốn điều ngược lại chẳng khác nào vua Canute ra lệnh cho sóng biển và thủy triều ngừng dâng.
Xin nói đôi lời về triết lý cá nhân của tôi. Nó được neo giữ bằng sự lạc quan. Nó buộc phải như vậy, bởi lạc quan mang theo hy vọng — một tương lai có mục đích — và vì thế tạo ra ý chí đấu tranh cho một thế giới tốt đẹp hơn. Nếu không có sự lạc quan ấy, sẽ chẳng còn lý do gì để tiếp tục.
Nếu xem cuộc đấu tranh như hành trình leo lên một ngọn núi, thì chúng ta phải hình dung đó là ngọn núi không có đỉnh. Ta nhìn thấy một đỉnh núi phía trước, nhưng cuối cùng khi tới nơi, màn sương lại tan đi và ta nhận ra mình mới chỉ đứng trên một mỏm đá. Ngọn núi vẫn tiếp tục vươn cao phía trước.
Rồi ta lại nhìn thấy “đỉnh thật sự” ở xa hơn và tiếp tục cố gắng chinh phục nó, chỉ để phát hiện rằng mình lại vừa tới một mỏm đá khác, còn đỉnh núi thực sự vẫn nằm phía trên. Và cứ thế mãi mãi, không bao giờ kết thúc.
Khi đã hiểu rằng ngọn núi ấy không có đỉnh, rằng đó là một hành trình bất tận từ cao nguyên này sang cao nguyên khác, thì câu hỏi sẽ xuất hiện: “Vậy tại sao phải đấu tranh, phải xung đột, phải chịu đau khổ, hiểm nguy và hy sinh? Tại sao phải không ngừng leo lên?”
Câu trả lời của chúng tôi cũng giống như câu trả lời mà một người leo núi thực thụ đưa ra khi bị hỏi vì sao anh ta làm điều đó: “Bởi vì ngọn núi ở đó.”
Bởi vì cuộc sống đang ở phía trước bạn; và hoặc là bạn thử thách chính mình trước những thách thức của nó, hoặc là co cụm trong các thung lũng của một đời sống lặp đi lặp lại vô mộng tưởng, nơi mục đích duy nhất chỉ là duy trì cảm giác an toàn và ổn định đầy ảo tưởng.
Đáng buồn thay, phần lớn con người lựa chọn con đường thứ hai, vì họ sợ cuộc phiêu lưu vào điều chưa biết. Nghịch lý ở chỗ, họ từ bỏ giấc mơ về những gì có thể đang chờ đợi phía trước trên những đỉnh cao của ngày mai để đổi lấy một cơn ác mộng kéo dài vĩnh viễn — chuỗi ngày bất tận sống trong nỗi sợ đánh mất sự an toàn mong manh mà họ đang bám víu.
Nhưng khác với công việc vô vọng của Sisyphus trong thần thoại — mãi mãi đẩy tảng đá lên đỉnh đồi rồi nhìn nó lăn xuống để bắt đầu lại từ đầu — thử thách này không phải là vòng lặp vô nghĩa ấy.
Chúng ta cũng đang đẩy tảng đá lên một ngọn núi bất tận, nhưng khác với Sisyphus, chúng ta luôn tiến lên cao hơn. Và cũng khác với ông, mỗi chặng đường đi lên đều khác biệt, đều mang tính kịch tính mới mẻ, đều là một cuộc phiêu lưu riêng.
Đôi khi chúng ta vẫn trượt ngã và rơi vào chán nản, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không đạt được tiến bộ. Đó đơn giản là bản chất của đời sống — rằng nó là một cuộc leo núi — và rằng việc giải quyết từng vấn đề sẽ lại tạo ra những vấn đề mới, sinh ra từ những hoàn cảnh mà ngày hôm nay chúng ta thậm chí còn chưa thể hình dung nổi.
Cuộc theo đuổi hạnh phúc không bao giờ có điểm kết thúc; hạnh phúc nằm chính trong hành trình theo đuổi ấy.
Đối diện với sự suy đồi vật chất của trật tự hiện hữu, không có gì đáng ngạc nhiên khi hầu hết các phong trào cách mạng đều được khởi phát chủ yếu từ những giá trị tinh thần và những khát vọng về công lý, bình đẳng, hòa bình và tình huynh đệ.
Lịch sử là một cuộc chạy tiếp sức của các cuộc cách mạng. Ngọn đuốc của chủ nghĩa lý tưởng được một lực lượng cách mạng cầm lên cho tới khi chính lực lượng ấy trở thành một thiết chế thống trị; rồi ngọn đuốc lại lặng lẽ được đặt xuống, chờ một nhóm cách mạng mới nhặt lên để tiếp tục chặng đường kế tiếp. Và chu trình cách mạng cứ thế tiếp diễn.
Một trong những cuộc cách mạng lớn cần phải giành thắng lợi trong tương lai gần là xóa bỏ ảo tưởng của con người rằng phúc lợi của riêng mình có thể tách rời khỏi phúc lợi của những người khác. Chừng nào con người còn bị xiềng xích bởi huyền thoại ấy, tinh thần nhân loại vẫn sẽ còn suy kiệt.
Việc chỉ quan tâm đến sự sung túc vật chất cá nhân mà phớt lờ hạnh phúc của người khác không chỉ là vô đạo đức theo các nguyên tắc của nền văn minh Do Thái–Kitô giáo, mà còn là một dạng ngu xuẩn xứng đáng với loài vật cấp thấp. Đó là dấu vết của con người vẫn còn kéo lê trong lớp bùn nguyên thủy của buổi bình minh lịch sử — nơi còn đầy sự vô minh và sự láu cá bản năng của động vật.
Tuy nhiên, ngay cả những người hiểu rằng tính liên đới giữa con người với nhau chính là sức mạnh cốt yếu giúp nhân loại thoát khỏi vũng lầy của tồn tại cũng đã thiếu sự minh triết trong những lời khuyến dụ và các tuyên ngôn đạo đức của họ, khi khẳng định rằng con người phải là người gìn giữ và chịu trách nhiệm cho đồng loại của mình. Xét trên phương diện ấy, lịch sử của những thế kỷ vừa qua là một thảm họa, bởi người ta đã lầm tưởng rằng con người sẽ theo đuổi các chuẩn mực đạo đức ở một cấp độ cao hơn những gì đời sống thường nhật của họ đòi hỏi.
Việc tách đạo đức khỏi những nhu cầu và khát vọng hằng ngày của con người, rồi nâng nó lên thành một lý tưởng vị tha và hy sinh thuần túy, thực chất là một sự phản bội đối với tương lai.
Sự thật là, không phải “bản tính cao đẹp” của con người mà chính lợi ích cá nhân của họ mới buộc họ phải trở thành người bảo vệ cho đồng loại của mình.
Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới mà không ai có thể yên ổn giữ ổ bánh mì của mình trong khi người hàng xóm không có gì để ăn. Nếu anh ta không chia sẻ ổ bánh ấy, anh ta sẽ không dám ngủ yên, bởi người hàng xóm có thể giết anh ta. Muốn được ăn và ngủ trong an toàn, con người buộc phải làm điều đúng đắn — dù đôi khi xuất phát từ những lý do tưởng như sai trái — và trên thực tế phải trở thành người giữ gìn cho đồng loại của mình.
Tôi tin rằng con người đang dần học được rằng lối sống thực tế nhất chính là lối sống đạo đức, và rằng đời sống đạo đức là con đường duy nhất dẫn tới sự sống còn. Con người bắt đầu hiểu rằng hoặc họ chia sẻ một phần của cải vật chất của mình, hoặc cuối cùng sẽ đánh mất tất cả; rằng họ phải tôn trọng và học cách chung sống với các hệ tư tưởng chính trị khác nếu muốn nền văn minh tiếp tục tồn tại. Đó là kiểu lập luận mà trải nghiệm thực tế của đời sống khiến con người có thể hiểu và chấp nhận. Đó là “con đường dễ dãi” dẫn tới đạo đức. Và không có con đường nào khác.
Chú thích:
(2) Diễn văn nhậm chức đầu tiên của Abraham Lincoln: “Quốc gia này, cùng với các thiết chế của nó, thuộc về nhân dân đang sống trong đó. Bất cứ khi nào họ cảm thấy chán ghét chính quyền hiện tại, họ có thể thực hiện quyền hiến định của mình để sửa đổi nó, hoặc quyền cách mạng của mình để giải thể hay lật đổ nó.”
(3) Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ William O. Douglas, trong bài The U.S. and Revolution, ấn phẩm chuyên đề số 116 của Center for the Study of Democratic Institutions:
“Trong những chuyến đi đến châu Á, tôi thường hỏi những người ở độ tuổi ba mươi hay bốn mươi rằng họ đã đọc gì khi mới mười tám tuổi. Hầu hết đều trả lời: ‘Karl Marx.’ Khi tôi hỏi tại sao, họ nói: ‘Chúng tôi sống dưới ách thuộc địa và tìm kiếm một con đường giải thoát. Chúng tôi muốn độc lập. Muốn có độc lập thì phải làm cách mạng. Mà những cuốn sách duy nhất viết về cách mạng lại do những người cộng sản xuất bản.’ Những người ấy hầu như đều đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản như một tín điều chính trị, dù vẫn giữ đôi chút khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Khi trò chuyện với họ, tôi nhận ra chúng ta đã bỏ lỡ những cơ hội lớn đến mức nào khi chỉ chăm chăm chống cộng bằng bom đạn và tiền bạc, thay vì bằng những ý tưởng về cách mạng, tự do và công lý.”
(4) Có người cho rằng không phải ngẫu nhiên mà dấu chấm hỏi lại giống như một chiếc cày lộn ngược — thứ dùng để xới tung lớp đất cứng của những niềm tin cũ và chuẩn bị cho mầm sống mới mọc lên.
(5) Dĩ nhiên cũng có một vài ngoại lệ. Tại Carmel-by-the-Sea, California — một trong những “Shangri-La” kiểu Mỹ dành cho những người muốn trốn chạy khỏi thế giới thực tại, nằm trên bán đảo Monterey tuyệt đẹp — đài phát thanh KRML từng phát sóng chương trình Sunshine News, được quảng bá là: “Bản tin chỉ đưa tin tích cực, chỉ toàn tin tốt lành của thế giới!” Giới trí thức — những người có thể chế giễu Sunshine News — thực ra cũng không ngoại lệ trong xu hướng thích những câu trả lời đã được định hình sẵn.
(6) Trong nhiều năm liền, các chủng sinh hoạt động xã hội thuộc khóa tốt nghiệp của một chủng viện Công giáo lớn gần Chicago thường đến gặp tôi một ngày trước khi được phong chức, để trao đổi về các giá trị, chiến thuật cách mạng và nhiều vấn đề tương tự.
Một lần, vào cuối buổi trò chuyện, một chủng sinh nói:
“Thưa ông Alinsky, trước khi đến đây chúng tôi đã họp với nhau và thống nhất rằng có một câu hỏi đặc biệt muốn hỏi ông. Chúng tôi sắp được phong chức linh mục, rồi sẽ được phân về các giáo xứ khác nhau làm trợ tá cho những vị linh mục già nua, bảo thủ và phản động — nói thật là như vậy. Họ sẽ phản đối rất nhiều điều mà ông và cả chúng tôi tin tưởng, và chúng tôi sẽ bị cuốn vào một guồng máy làm việc giết chết tinh thần. Câu hỏi của chúng tôi là: làm sao giữ được niềm tin vào những giá trị Kitô giáo đích thực và vào tất cả những điều mà chúng tôi hy vọng có thể làm để thay đổi hệ thống?”
Câu trả lời của tôi rất đơn giản:
“Khi các anh bước ra khỏi cánh cửa này, hãy tự quyết định xem mình muốn trở thành một giám mục hay một linh mục — rồi mọi chuyện khác sẽ tự đi theo sau đó.”
(7) Trong hơn bốn nghìn năm, người Trung Hoa đã quen thuộc với nguyên lý “tính bổ sung” trong đời sống triết học của họ. Họ tin rằng từ cái vô hạn — tự nhiên, Thượng đế hay các vị thần — sinh ra nguyên lý sáng tạo mà họ gọi là Thái Cực. Từ Thái Cực xuất hiện Lưỡng Nghi hay hai lực lượng đối lập là Âm và Dương, từ đó sinh ra mọi thứ khác.
Âm và Dương từng được diễn giải như các cặp đối lập: tích cực và tiêu cực, ánh sáng và bóng tối, nam và nữ, cùng vô số hình thái đối cực khác.
(8) Heraclitus, Fragments: “Những người thức tỉnh cùng chia sẻ một thế giới chung; còn những người ngủ mê thì mỗi người sống trong thế giới riêng của mình.”
