Nguồn: Gene Sharp. The Politics of Nonviolent Action.
Phong trào Duy Tân dịch.
Chương 5. Bất hợp tác chính trị
Mục 5.6. Các chính phủ trên thế giới cùng hành động
Cách chia loại ở đây chưa đủ chi tiết. Việc các chính phủ không chịu hợp tác với nhau có rất nhiều dạng khác nhau, chỉ cần nhìn qua cũng thấy. Vì vậy, cần phân loại kỹ hơn.
Bảy cách làm được nêu bên dưới chỉ là ví dụ để minh họa, không phải danh sách đầy đủ. Chúng đi từ mức nhẹ, chủ yếu mang tính tượng trưng (như bày tỏ thái độ phản đối), đến mức mạnh hơn, có thể làm cản trở các hoạt động và quan hệ quốc tế bình thường của một nước.
Anthony de Crespigny nhắc lại rằng theo Công ước thành lập Hội Quốc Liên, các nước thành viên có nghĩa vụ cùng nhau trừng phạt toàn diện bất kỳ nước nào gây chiến tranh trái với Hiệp ước. Cụ thể là cắt đứt mọi quan hệ với nước đó, từ ngoại giao, chính trị, xã hội đến kinh tế.
151. Thay đổi người đại diện ngoại giao và các hình thức đại diện khác
Khi một chính phủ không đồng ý với chính sách của nước khác, họ có thể bày tỏ thái độ mà chưa cần cắt đứt quan hệ ngoại giao. Các cách thường gặp là:
- Gọi nhà ngoại giao hoặc quan chức của mình về nước.
- Yêu cầu nước kia thay một nhà ngoại giao đang làm việc tại nước mình.
- Cố tình cử một người có cấp bậc quá thấp làm người đứng đầu đại sứ quán, để nước sở tại cảm thấy bị coi thường.
- Đóng cửa một số cơ quan đại diện như lãnh sự quán (do tự đóng hoặc bị nước sở tại yêu cầu đóng).
Gọi cả quan chức không phải nhà ngoại giao về nước
Năm 1948, Liên Xô và Nam Tư mâu thuẫn gay gắt. Stalin yêu cầu Nam Tư và Bulgaria lập ngay một liên bang, nhưng lãnh đạo Đảng Cộng sản Nam Tư từ chối. Ngày 18/3, Liên Xô đáp lại bằng cách rút các cố vấn quân sự khỏi Belgrade.
Nước sở tại đòi đổi đại sứ
Nước tiếp nhận cũng có thể yêu cầu gọi đại sứ về. Theo Sir Douglas Busk, lý do thường là chính trị chứ không phải cá nhân: họ không hài lòng với chính sách của chính phủ mà vị đại sứ đại diện. Khi đó, công việc ngoại giao do một quan chức cấp thấp hơn đảm nhiệm.
Nếu nước cử đại sứ từ chối thì sao? Theo Charles W. Thayer, nước sở tại sẽ đơn giản là ngừng làm việc với vị đại sứ ấy. Lúc này, nước cử đi hầu như chỉ còn cách đáp trả là cắt đứt quan hệ ngoại giao.
Ví dụ: Năm 1848, đại sứ Anh tại Tây Ban Nha là Henry Bulwer làm quá chỉ thị, can thiệp mạnh để ngăn việc đàn áp các chính trị gia tự do Tây Ban Nha. Tây Ban Nha đòi gọi ông về nhưng Anh từ chối. Sau nhiều lần trao đổi, hai nước cắt đứt quan hệ ngoại giao.
Tuyên bố “người không được hoan nghênh”
Trong Thế chiến I, Franz von Papen, tùy viên quân sự Đức ở Washington, bị cáo buộc tham gia âm mưu phá hoại các nhà máy đạn dược của Mỹ. Ông bị tuyên bố là persona non grata (người không được hoan nghênh) và chính phủ Đức phải gọi ông về. Còn rất nhiều trường hợp tương tự, khi nhà ngoại giao bị cho là hành xử không phù hợp.
Đóng cửa lãnh sự quán
Đây cũng là biện pháp phổ biến. Ngày 21/5/1941, tàu buôn Robin Moor của Mỹ bị tàu ngầm Đức đánh chìm. Mỹ đóng băng toàn bộ tài sản của Đức và Ý tại Mỹ, đồng thời yêu cầu đóng tất cả lãnh sự quán của hai nước này. Đức và Ý đáp trả bằng cách đóng các lãnh sự quán Mỹ trên lãnh thổ của họ.
Trường hợp Mỹ và Thụy Điển (cuối thập niên 1960)
Cuối thập niên 1960, Mỹ không hài lòng vì Thụy Điển phản đối việc Mỹ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam. Để thể hiện thái độ đó, tháng 3/1968, Mỹ gọi đại sứ của mình tại Thụy Điển là William Heath về gặp Tổng thống Johnson. Sau chuyến đi này, ông không quay lại Thụy Điển và cũng không có ai được cử sang thay. Đến tháng 11/1969, Mỹ đóng cửa lãnh sự quán ở Göteborg với lý do chính thức là cắt giảm chi tiêu đối ngoại. Đáng chú ý, đây là lãnh sự quán lâu đời nhất của Mỹ, do George Washington lập năm 1797, sau khi Thụy Điển trở thành chính phủ đầu tiên công nhận nước Mỹ mới ra đời. Trong khi đó, chính quyền Nixon, nhậm chức từ tháng 1/1969, cũng trì hoãn việc cử đại sứ mới. Thủ tướng Thụy Điển Olof Palme cho rằng cách làm này thiếu thực tế, bởi nếu Washington muốn giải thích cho Thụy Điển biết nước này sai ở đâu thì cần có người ở đó để giải thích. Cuối cùng, đến mùa xuân 1970, Tiến sĩ Jerome Holland chính thức nhậm chức đại sứ Mỹ tại Thụy Điển.
152. Trì hoãn và hủy bỏ các sự kiện ngoại giao
Khi không hài lòng với hành động hoặc chính sách của một chính phủ khác, một chính phủ có thể kéo dài hoặc dừng hẳn các cuộc đàm phán, họp hành, hội nghị mà hai bên cùng tham gia. Dưới đây là một số ví dụ.
Liên Xô kéo dài đàm phán
Theo Gordon A. Craig, Liên Xô trước đây thường kéo dài đàm phán hàng tháng, thậm chí hàng năm. Đôi khi họ còn nâng cấp bậc đàm phán, chẳng hạn từ cấp đại sứ lên cấp bộ trưởng, rồi lên cấp nguyên thủ. Kết quả là vấn đề chính và những điểm bất đồng ban đầu dần trở nên mờ nhạt, nhất là khi có thêm các chiến dịch tuyên truyền hỗ trợ. Craig nêu hai ví dụ: một là các cuộc đàm phán kéo dài, lặp đi lặp lại trong thập niên 1920 về khoản nợ của Nga, kết quả là Nga tránh được việc trả nợ mà không bị phạt gì; hai là nhiều cuộc đàm phán về Berlin và nước Đức sau này, đặc biệt dưới thời Thủ tướng Khrushchev.
Liên Xô hủy cuộc họp với Nam Tư (1948)
Đầu năm 1948, khi Stalin bắt đầu gây áp lực lên Nam Tư, Liên Xô hủy cuộc họp dự kiến vào tháng 4. Đây là cuộc họp để gia hạn các thỏa thuận thương mại giữa hai nước.
Hội nghị thượng đỉnh Paris bị đổ vỡ (1960)
Đầu tháng 5/1960, Liên Xô thông báo đã dùng tên lửa bắn rơi một máy bay do thám U-2 của Mỹ khi nó đang chụp ảnh lãnh thổ Liên Xô từ độ cao lớn. Sau đó, Khrushchev lên án các “chuyến bay gián điệp” và đòi trừng phạt những người chịu trách nhiệm. Ông nói hội nghị thượng đỉnh bốn nước (Liên Xô, Mỹ, Pháp, Anh) đang diễn ra ở Paris sẽ không thể tiếp tục nếu chính phủ Mỹ không xin lỗi đầy đủ. Theo Wilfrid Knapp, chỉ sau một cuộc họp ngắn vào sáng 16/5, hội nghị thượng đỉnh năm 1960 đã kết thúc.
Hủy phiên đàm phán hòa bình Việt Nam tại Paris (1970)
Ngày 6/5/1970, phái đoàn Bắc Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng hủy phiên họp toàn thể lần thứ 66 của cuộc đàm phán hòa bình Việt Nam ở Paris. Họ làm vậy để phản đối việc Mỹ ném bom trở lại Bắc Việt Nam trong năm ngày liền. Người phát ngôn Bắc Việt Nam, Nguyễn Thanh Lê, gọi đây là một “quyết định chính trị” mang tính đặc biệt. Phiên họp tiếp theo dự kiến diễn ra vào ngày 14/5. Tuy nhiên, phái đoàn Mỹ và phái đoàn Nam Việt Nam không đồng ý ngay với ngày này. Phía Nam Việt Nam còn nói rằng họ cũng có thể làm như Bắc Việt Nam, tức là hủy hoặc tẩy chay một phiên họp để phản đối.
153. Từ chối công nhận ngoại giao
Thông thường, các chính phủ công nhận bất kỳ chính phủ nào đang thực sự nắm quyền kiểm soát đất nước mình, dù họ có thích chính phủ đó hay không.
Tuy nhiên, đôi khi một chính phủ cố ý từ chối công nhận. Lý do thường là họ phản đối cách chính phủ kia lên nắm quyền, hoặc phản đối bản chất chính trị của chế độ đó.
Dưới đây là các ví dụ:
(1) Mỹ và chế độ Huerta ở Mexico
Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson từ chối công nhận chế độ của Victoriano Huerta. Huerta là người bảo vệ mạnh mẽ cho những nhóm giàu có, nắm nhiều tài sản. Ông ta lật đổ chính quyền cách mạng của Francisco Madero, và phải chịu trách nhiệm về cái chết của Madero khi ông này đang bị giam.
Wilson nói rằng ông mong Mexico có một chính phủ trật tự và công bằng, nhưng điều ông quan tâm nhất là 85% người dân Mexico đang bị áp bức và đang đấu tranh để giành tự do.
(2) Mỹ và Mãn Châu Quốc (1932)
Tháng 2/1932, Nhật Bản chiếm vùng Mãn Châu của Trung Quốc rồi lập ra một “quốc gia” gọi là Mãn Châu Quốc. Thực chất, đây chỉ là bù nhìn, mọi việc đều do Nhật quyết định.
Trước việc này, Mỹ đưa ra Học thuyết Stimson (còn gọi là Hoover–Stimson). Nội dung rất đơn giản: Mỹ sẽ không thừa nhận bất kỳ sự thay đổi nào được tạo ra bằng cách xâm lược, vì như vậy là vi phạm Hiệp ước Kellogg–Briand, một hiệp ước quốc tế cấm các nước gây chiến tranh xâm lược.
Theo đó, Mỹ không công nhận Mãn Châu Quốc là một nước. Tuy nhiên, Mỹ chỉ dừng ở mức này. Mỹ không chấp nhận đề xuất trừng phạt Nhật bằng biện pháp kinh tế hay quân sự. Mỹ vẫn buôn bán với vùng đó và vẫn để các quan chức lãnh sự làm việc tại đây. Những quan chức này vẫn được xem là do chính phủ Trung Hoa công nhận, chứ không phải do Mãn Châu Quốc.
Theo nhà sử học Thomas Bailey, tháng 3/1932, Hội Quốc Liên (tổ chức quốc tế thời đó) cũng nhất trí thông qua một nghị quyết chống Nhật. Nội dung nghị quyết gần như giống hệt học thuyết của Mỹ.
(3) Mỹ và Liên Xô
Trong nhiều năm, Mỹ không công nhận chính phủ cộng sản Liên Xô vì nhiều bất đồng và cáo buộc. Mãi đến năm 1933, hai bên mới thỏa thuận công nhận nhau.
(4) Mỹ và Trung Quốc cộng sản
Trong nhiều năm, Mỹ không công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc cộng sản). Đây là một ví dụ rất nổi tiếng về việc dùng cách “không công nhận” làm công cụ chính trị. Mục đích của Mỹ là góp phần làm chế độ cộng sản ở Trung Quốc sụp đổ.
Ngày 11/8/1958, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố rằng chế độ cộng sản ở Trung Quốc sẽ không tồn tại mãi mãi. Mỹ không công nhận chính quyền Bắc Kinh để ngày đó đến sớm hơn.
Ngày 4/12/1958, Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles giải thích rõ hơn. Theo ông, nếu Mỹ công nhận Trung Quốc cộng sản và để họ có ghế ở Liên Hợp Quốc thì sẽ có ba hậu quả:
- Uy tín và ảnh hưởng của Trung Quốc ở vùng Viễn Đông sẽ tăng mạnh.
- Các đồng minh của Mỹ trong khu vực sẽ nản lòng.
- Các nỗ lực của cộng sản nhằm lật đổ chính quyền các nước khác gần như chắc chắn sẽ thành công.
(5) Các nước Ả Rập và Israel
Từ khi nhà nước Israel được thành lập, các nước Ả Rập có một chính sách cơ bản là không công nhận Israel là một quốc gia.
Ngoài ra, họ còn dùng những cách mạnh hơn:
- Từ chối làm việc trực tiếp với chính phủ Israel.
- Cố ngăn Israel gia nhập các tổ chức quốc tế.
- Cấm vận kinh tế, tức là không buôn bán, giao thương với Israel.
(6) Phương Tây và chế độ Kadar ở Hungary
Năm 1956, người dân Hungary nổi dậy chống chính quyền thân Liên Xô, nhưng cuộc nổi dậy bị dập tắt bằng quân đội Liên Xô. Sau đó, János Kádár lên cầm quyền ở Hungary. Nhiều chính phủ phương Tây đã tẩy chay ngoại giao chế độ của ông, tức là không giao thiệp chính thức với chính phủ này để bày tỏ sự phản đối.
Lệnh tẩy chay chấm dứt vào ngày 1/1/1958. Tuy nhiên, Mỹ vẫn chưa chịu công nhận đầy đủ chính phủ Hungary. Mỹ chỉ cử một đại biện lâm thời (chargé d’affaires) đến thủ đô Budapest. Đó là một quan chức cấp thấp hơn đại sứ, nghĩa là quan hệ giữa hai nước vẫn bị hạ cấp.
Theo Ferenc Váli, Liên Xô thấy rằng việc Mỹ vẫn hoàn toàn không chịu công nhận chính phủ Hungary mới là trở ngại lớn nhất. Nó khiến Liên Xô khó xóa đi sự cay đắng mà việc dùng quân đội can thiệp ở Hungary đã gây ra.
(7) Dùng lời đe dọa để chặn một cuộc đảo chính ở Đức (1920)
Đôi khi, chỉ cần tuyên bố “sẽ không bao giờ công nhận” cũng đủ giúp đánh bại một cuộc đảo chính.
Năm 1920, ở Đức xảy ra một cuộc đảo chính nhằm dựng lên chế độ do ông Kapp đứng đầu (thường gọi là chế độ Kapp). Tướng Lüttwitz là người giúp áp đặt chế độ này lên nước Đức.
Ngày 16/3/1920, Thiếu tướng Sir Neill Malcolm, người đứng đầu phái bộ quân sự của Anh tại Berlin, nói thẳng với Tướng Lüttwitz rằng Anh sẽ không bao giờ công nhận chế độ Kapp.
Theo nhà sử học Wheeler-Bennett, lời tuyên bố đó đã làm cuộc đảo chính thất bại hoàn toàn. Lý do là nếu không được các nước khác công nhận, chế độ mới sẽ bị cô lập và khó tồn tại.
(8) Công nhận có điều kiện
Còn một cách khác: thay vì từ chối hẳn, một nước có thể vẫn công nhận chính phủ mới nhưng đặt ra điều kiện.
Theo Harold Nicolson trong cuốn Ngoại giao, chính phủ Anh từng làm như vậy với Cộng hòa Bồ Đào Nha. Anh công nhận chế độ mới, nhưng với điều kiện chế độ đó phải được người dân xác nhận qua một cuộc tổng tuyển cử (cuộc bầu cử trên cả nước).
Nói cách khác, Anh nói: “Chúng tôi công nhận, nhưng các bạn phải chứng minh người dân thực sự ủng hộ.”
154. Cắt đứt quan hệ ngoại giao
Cắt đứt quan hệ ngoại giao là gì?
Theo Busk, việc cắt đứt quan hệ ngoại giao thường có nghĩa là toàn bộ phái bộ ngoại giao của hai nước phải rời khỏi thủ đô của nhau. Tuy nhiên, đôi khi chỉ có đại sứ (hoặc cao ủy) và một số người khác bị buộc phải rời đi. Các quan chức lãnh sự có thể được ở lại hoặc không.
Nếu toàn bộ nhân viên ngoại giao rút về nước, nước đó sẽ nhờ một nước thứ ba đại diện, lo bảo vệ những lợi ích còn lại của mình tại đất nước kia.
Cắt quan hệ không phải lúc nào cũng dẫn đến chiến tranh
Theo Nicolson, việc cắt quan hệ ngoại giao hoàn toàn không phải lúc nào cũng là bước đầu của chiến tranh. Nhiều khi nó chỉ để bày tỏ sự phẫn nộ sâu sắc về mặt đạo đức.
Serbia, tháng 6/1903: Vua Alexander và Hoàng hậu Draga của Serbia bị ám sát. Để thể hiện sự phản đối, Anh gọi công sứ (đại diện ngoại giao) của mình về nước, rời khỏi thủ đô Belgrade.
Hy Lạp, tháng 11/1922: Đại tá Plastiras bị cáo buộc sát hại ông Gounaris và các bộ trưởng khác. Cũng như trường hợp Serbia, một số nước đã cắt quan hệ ngoại giao với Hy Lạp để bày tỏ sự phản đối.
Mỹ và Đức (1917): Lúc đó đang là Thế chiến I. Anh dùng tàu chiến chặn đường biển, không cho hàng hóa đi vào nước Đức. Để phá thế bị chặn này, ngày 31/1/1917, Đức tuyên bố sẽ dùng tàu ngầm đánh chìm mọi con tàu đi vào vùng chiến sự, kể cả tàu của các nước trung lập (những nước không tham chiến). Sau tuyên bố đó, Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson ra trước Quốc hội và thông báo Mỹ chấm dứt quan hệ ngoại giao với Đức.
Liên Xô và chính phủ Ba Lan lưu vong (1943): Lúc đó đang là Thế chiến II. Chính phủ Ba Lan phải hoạt động lưu vong ở London vì đất nước bị chiếm đóng. Năm 1943, quân Đức phát hiện các hố chôn tập thể ở khu rừng Katyn. Ở đó có khoảng mười nghìn sĩ quan Ba Lan, những người đã mất tích suốt hai năm. Chính phủ Ba Lan lưu vong tin rằng Liên Xô là thủ phạm gây ra những vụ hành quyết này. Bộ trưởng Quốc phòng Ba Lan kêu gọi một tổ chức quốc tế thích hợp, như Hội Chữ thập đỏ quốc tế, vào điều tra. Ngay sau đó, ngày 25/4/1943, Liên Xô cắt quan hệ ngoại giao với chính phủ Ba Lan lưu vong.
Bổ sung: Sau này, các tài liệu lịch sử đã xác nhận vụ thảm sát Katyn do cơ quan mật vụ Liên Xô (NKVD) thực hiện vào năm 1940. Liên Xô từng phủ nhận trong nhiều thập kỷ, đến năm 1990 mới chính thức nhận trách nhiệm.
155. Rút khỏi các tổ chức quốc tế
Một chính phủ có thể rút khỏi, hoặc ngừng tham gia, các tổ chức và hội nghị quốc tế. Họ làm vậy vì hai lý do chính:
- Để bày tỏ sự bất mãn với chính sách của tổ chức đó.
- Để rảnh tay hành động trong những việc mà tổ chức đó có thể phản đối.
Đức rút khỏi Hội Quốc Liên (1933)
Ngày 14/10/1933, Hitler tuyên bố Đức sẽ rút khỏi Hội nghị Giải trừ Quân bị và cả Hội Quốc Liên. Lý do ông đưa ra là Đức không được hưởng quyền bình đẳng. Ông nói rằng việc hòa giải với các cựu đối thủ mà Đức mong đợi đã không xảy ra, quyền bình đẳng của người Đức cũng chưa được khôi phục, nên Đức không thể chịu đựng sự sỉ nhục nữa.
Cùng ngày, Hitler cho biết sẽ đưa việc rút khỏi Hội Quốc Liên ra trưng cầu dân ý (cho người dân bỏ phiếu quyết định) vào ngày 12/11, tức một ngày sau lễ kỷ niệm Hiệp định đình chiến năm 1918.
Liên Xô bỏ họp ở Liên Hợp Quốc (1950)
Năm 1950, các đại biểu Liên Xô ngừng tham gia hoạt động của Liên Hợp Quốc, nhưng không rút khỏi tư cách thành viên. Họ làm vậy để phản đối việc Liên Hợp Quốc vẫn để đại biểu của Trung Hoa Dân quốc (chính quyền Quốc dân Đảng) đại diện cho Trung Quốc, thay vì đại biểu của chính phủ cộng sản đang kiểm soát Trung Quốc đại lục.
Theo Knapp, ngày 10/1/1950, Jacob Malik, đại diện Liên Xô, rời cuộc họp của Hội đồng Bảo an và tuyên bố sẽ không tham gia công việc của hội đồng cho đến khi đại biểu Quốc dân Đảng bị thay thế. Sau đó, các đại biểu Liên Xô rút khỏi tất cả các cơ quan của Liên Hợp Quốc có Trung Quốc là thành viên.
Việc Liên Xô vắng mặt tại Hội đồng Bảo an có một hệ quả quan trọng: khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, hội đồng đã nhanh chóng thông qua các biện pháp chống Bắc Triều Tiên.
Indonesia rút khỏi Liên Hợp Quốc (1964–1965)
Lúc đó, Indonesia đang theo chính sách “Đối đầu” (Konfrontasi) chống Malaysia. Ngày 31/12/1964, Indonesia thông báo cho Chủ tịch Đại hội đồng và Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc rằng nước này sẽ rút khỏi tổ chức, vì Malaysia đã được bầu vào Hội đồng Bảo an.
Dù có nhiều lời kêu gọi và các cuộc đàm phán riêng, đến cuối tháng 1/1965, Indonesia vẫn xác nhận việc rút khỏi Liên Hợp Quốc và một số cơ quan chuyên môn của tổ chức này. Đáng chú ý, Hiến chương Liên Hợp Quốc không có điều khoản nào quy định về việc rút khỏi tổ chức.
156. Từ chối tư cách thành viên trong các tổ chức quốc tế
Các tổ chức quốc tế đôi khi từ chối nhận một chính phủ làm thành viên. Lý do có thể là sự cạnh tranh chính trị giữa các nước, sự không tán thành đối với chính phủ đó, hoặc những nguyên nhân khác.
Ví dụ nổi bật nhất là trường hợp của Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc. Trong hơn 20 năm, Liên Hợp Quốc không cho đại biểu của chính phủ cộng sản ở Trung Quốc đại lục ngồi vào ghế đại diện cho Trung Quốc. Ghế này vẫn do đại biểu của chính phủ Quốc dân Đảng giữ, dù chính phủ này chỉ kiểm soát đảo Formosa (Đài Loan).
Sự việc bắt nguồn từ tình hình năm 1949. Đến cuối năm đó, chính phủ cộng sản (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) đã kiểm soát toàn bộ Trung Quốc đại lục, còn chính phủ Quốc dân Đảng (Trung Hoa Dân quốc) đã rút ra Đài Loan. Vì vậy, đại biểu Liên Xô tại Hội đồng Bảo an đã tìm cách loại đại biểu Quốc dân Đảng ra khỏi tổ chức, nhưng không thành công.
Sau năm 1961, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc coi vấn đề ai đại diện cho Trung Quốc là “một vấn đề quan trọng”. Điều này có nghĩa là mọi thay đổi cần được hai phần ba số phiếu ủng hộ, chứ không chỉ hơn một nửa như thông thường, nên việc thay đổi càng khó thực hiện. Trong lúc đó, Mỹ gây áp lực rất lớn, và các cơ quan của Liên Hợp Quốc vẫn không cho đại biểu chính phủ cộng sản Trung Quốc vào ghế. Mãi đến năm 1971, đại biểu của chính phủ cộng sản mới thay thế đại biểu Quốc dân Đảng.
157. Khai trừ khỏi các tổ chức quốc tế
Một hình phạt mà các tổ chức quốc tế đôi khi dùng với nước vi phạm chính sách hoặc điều lệ của họ là khai trừ, tức là tước tư cách thành viên của nước đó.
Hội Quốc Liên khai trừ Liên Xô (1939)
Công ước của Hội Quốc Liên quy định: nếu một thành viên vi phạm bất kỳ điều khoản nào của Công ước, nước đó có thể bị tuyên bố không còn là thành viên. Biện pháp này chỉ được dùng một lần duy nhất, với Liên Xô, sau khi nước này tấn công Phần Lan năm 1939.
Ngày 14/12/1939, Đại hội đồng Hội Quốc Liên họp khi không có đại biểu Liên Xô. Hội đồng nhất trí lên án cuộc xâm lược và tuyên bố rằng, theo Khoản 4 Điều 16 của Công ước, bằng hành động của mình, Liên Xô đã tự đặt mình ra ngoài Hội Quốc Liên. Vì vậy, Liên Xô không còn là thành viên nữa.
Liên Hợp Quốc có quy định khai trừ nhưng chưa từng dùng
Điều 6 của Hiến chương Liên Hợp Quốc nói rằng nếu một thành viên liên tục vi phạm các nguyên tắc của Hiến chương, Đại hội đồng có thể khai trừ nước đó, dựa trên khuyến nghị của Hội đồng Bảo an.
Điều thú vị là chính Liên Xô là nước đề xuất đưa điều khoản này vào Hiến chương tại Hội nghị Dumbarton Oaks, rồi mạnh mẽ ủng hộ tại Hội nghị San Francisco, nơi Liên Hợp Quốc được thành lập. Tuy nhiên, đến nay điều khoản này chưa bao giờ được áp dụng, dù đã có những đề xuất khai trừ Nam Phi và Bồ Đào Nha.
Nam Tư bị khai trừ khỏi Cominform (1948)
Cominform là một tổ chức quốc tế của các đảng cộng sản. Năm 1948, Tito (lãnh đạo Nam Tư) từ chối phục tùng Stalin, nên Nam Tư bị khai trừ khỏi tổ chức này. Đây là một trong những biện pháp trừng phạt được dùng lúc đó.
Bất hợp tác chính trị là nhóm cuối cùng trong ba nhóm phương pháp bất hợp tác bất bạo động. Phần tiếp theo sẽ nói về nhóm phương pháp cuối cùng của hành động bất bạo động: “can thiệp bất bạo động”.
