Phong Trào Duy Tân

198 phương thức bất bạo động. Chương 5, Mục 5: Hành động của các cơ quan chính quyền trong nước

Nguồn: Gene Sharp. The Politics of Nonviolent Action.

Phong trào Duy Tân dịch.

Chương 5. Bất hợp tác chính trị

Mục 5.5. Hành động của các cơ quan chính quyền trong nước 

149. Né tránh và trì hoãn bằng thủ đoạn “bán hợp pháp”

Đôi khi cơ quan nhà nước không dám công khai chống lại luật, phán quyết của tòa án hay quy định buộc họ phải làm một việc mà họ không muốn. Thay vào đó, họ lách luật: dựa vào một luật khác (hoặc chỉ cái vỏ bề ngoài của luật đó), hoặc viện ra những tiêu chí chẳng liên quan gì đến vấn đề đang tranh cãi. Mục đích là tránh phải tuân thủ, hoặc ít nhất kéo dài việc tuân thủ càng lâu càng tốt.

Cách làm này giống với các hình thức trì hoãn, cản trở đã nói ở phần trước. Điểm khác là ở đây người thực hiện không phải cá nhân hay một đơn vị hành chính riêng lẻ, mà là các cơ quan cấp dưới hoặc các bộ phận cấu thành của nhà nước.

Ở miền Nam nước Mỹ, thủ đoạn này được dùng rất rộng rãi từ cuối thời kỳ Tái thiết sau Nội chiến cho đến tận ngày nay. Tuy vậy, phương pháp này không chỉ dành cho những người ủng hộ phân biệt chủng tộc.

Tu chính án thứ Mười lăm đã cấm các bang tước quyền bầu cử của người da đen, nhưng nhiều bang vẫn tìm cách khác để đạt cùng mục tiêu. Ví dụ, năm 1910 Oklahoma sửa hiến pháp, đặt ra bài kiểm tra đọc viết làm điều kiện để được bỏ phiếu, nhưng kèm theo một ngoại lệ lớn: những người mà ông bà, cha mẹ (tổ tiên trực hệ) từng có quyền bỏ phiếu vào hoặc trước ngày 1/1/1866 thì không phải thi. Hai học giả A. P. Blaustein và C. C. Ferguson Jr. nhận xét rằng, nói cách khác, người duy nhất phải vượt qua bài kiểm tra khó là những người có ông nội từng là nô lệ. Điều khoản này gọi là “Điều khoản Ông nội”, và Tòa án Tối cao Hoa Kỳ sau đó đã tuyên bố nó vi hiến.

Năm 1916, Oklahoma lại ban hành một đạo luật khác: những người trước đây bị tước quyền bầu cử phải đăng ký trong vòng 12 ngày. Một lần nữa, quy định này thực chất nhắm vào người da đen, vì nhiều “khó khăn thực tế” sẽ khiến họ không kịp đăng ký. Đạo luật này cũng bị tuyên bố vi hiến. Tòa án Tối cao khẳng định Tu chính án thứ Mười lăm cấm cả những hình thức phân biệt đối xử tinh vi lẫn những hình thức lộ liễu, thô thiển.

Các bang miền Nam còn dùng nhiều chiêu “hợp pháp” hoặc “bán hợp pháp” khác để ngăn người da đen đi bầu.

Chặn quyền bầu cử bằng bài kiểm tra đọc viết

Năm 1961, một nhóm cố vấn của bang Bắc Carolina gửi báo cáo lên Ủy ban Dân quyền Hoa Kỳ. Báo cáo có kèm đơn khiếu nại, viết dưới lời thề, của người da đen ở năm quận. Họ nói rằng bài kiểm tra đọc viết bị dùng không công bằng để ngăn họ đăng ký đi bầu. Cụ thể, họ bị kiểm tra theo cách khác với người da trắng, và lý do duy nhất là vì họ là người da đen. Nhiều người còn cho rằng các bang miền Nam ngay từ đầu đã ban hành luật đọc viết chính là để làm việc này. Cũng trong năm 1961, Tòa án Tối cao Bắc Carolina ra phán quyết về một trường hợp trong số những người khiếu nại. Tòa yêu cầu phải cho bà được đăng ký lại, vì bài kiểm tra bà phải làm là khó và rộng hơn mức mà luật cho phép.

Né tránh phán quyết năm 1954 về trường học

Năm 1954, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ tuyên bố phân biệt chủng tộc trong trường công là bất hợp pháp. Nhiều bang đã tìm cách lách phán quyết này.

Florida: Luật Phân bổ Học sinh cho phép Hội đồng Giáo dục tổ chức các bài kiểm tra chung để xếp học sinh theo năng lực và thành tích học tập. Nghe thì có vẻ hợp lý: mục đích nói ra là để học sinh trong cùng một trường có trình độ ngang nhau. Tuy nhiên, các bài kiểm tra này không chỉ xét điểm số. Chúng còn xem cả những yếu tố khó đo lường như tâm lý, xã hội, với lý do là để tránh chênh lệch giàu nghèo, giai cấp giữa các học sinh. Khi quyết định cho em nào vào trường nào, hội đồng cũng cân nhắc xem tâm lý, đạo đức và văn hóa của em đó có hợp với những học sinh đang học ở trường ấy hay không. Bề ngoài, những tiêu chí này nghe như khoa học và công bằng, và luật không hề nhắc đến chủng tộc. Nhưng vì các tiêu chí quá mơ hồ, hội đồng có thể diễn giải theo ý mình, và nhờ đó vẫn giữ được việc tách học sinh da đen và da trắng, dù không cần nói thẳng ra.

Bắc Carolina: Bang này đặt ra một kế hoạch, giao cho các hội đồng giáo dục quyết định mỗi học sinh sẽ học ở trường nào. Nếu học sinh hoặc phụ huynh không đồng ý, họ phải đi qua một thủ tục khiếu nại rất rắc rối và tốn nhiều thời gian. Hai học giả Blaustein và Ferguson cho rằng kế hoạch này được thiết kế có chủ ý. Theo quy định chung, muốn kiện ra tòa liên bang thì trước hết phải thử hết mọi cách giải quyết ở tòa của bang. Thủ tục phức tạp kia khiến việc “thử hết mọi cách” trở nên rất lâu và khó khăn, nên các gia đình khó đưa được vụ việc lên tòa liên bang. Đến tháng 5/1956, một vụ kiện thay mặt cho toàn bộ trẻ em da đen trong một quận được đưa lên Tòa án Tối cao Bắc Carolina, nhưng bị bác. Lý do là luật quy định mỗi trường hợp phải được xử riêng từng người, nên kiện chung cho cả nhóm là không hợp lệ.

Hậu quả là cha mẹ của từng đứa trẻ phải tự khởi kiện riêng, bắt đầu lại từ đầu. Nhờ vậy, việc thực hiện phán quyết xóa bỏ phân biệt chủng tộc trong trường học bị kéo dài gần như không có hồi kết.

150. Các cơ quan chính quyền cấp dưới không hợp tác

Khi người dân phản đối và không hợp tác với chính quyền trung ương, những cơ quan chính quyền địa phương, tỉnh hay bang mà biết lắng nghe dư luận có thể tự mình đứng ra không hợp tác với trung ương. Crane Brinton cho rằng đây là một yếu tố quan trọng trong Cách mạng Mỹ. Theo ông, các cuộc họp thị trấn và hội đồng lập pháp thuộc địa vốn là một phần của chính quyền hợp pháp, nhưng thường do những người đang hoạt động trong “chính quyền bất hợp pháp” (tức lực lượng kháng cự) kiểm soát.

Rhode Island (1765). Đây có lẽ là hành động bất hợp tác bằng phương pháp bất bạo động mạnh nhất mà một chính quyền thuộc địa từng làm trong cuộc đấu tranh chống Anh.

Đạo luật Tem của Anh bắt người dân phải mua và dán tem thuế lên giấy tờ. Tháng 9/1765, Hội đồng Rhode Island ra lệnh cho các quan chức trong tỉnh cứ làm việc như bình thường, tức là coi như luật này không tồn tại. Hội đồng còn hứa sẽ đứng ra bảo vệ và bồi thường nếu ai bị trừng phạt vì làm theo lệnh này.

Kết quả là người được giao bán tem ở Rhode Island đã từ chức, còn Thống đốc thì từ chối tuyên thệ giúp thi hành luật. Các tòa án vẫn mở cửa và xử án như thường, không dùng tem trên giấy tờ dù luật yêu cầu.

New York (1766). Khi được yêu cầu bố trí chỗ ở cho quân đội Anh theo Luật Đóng quân, Hội đồng New York cứ trì hoãn, kéo dài thời gian. Trong thư trả lời Bộ trưởng ở Luân Đôn, họ nói rằng chi phí này quá nặng với thuộc địa và người dân. Họ xin ông hiểu rằng việc họ không làm theo xuất phát từ ý thức về bổn phận của mình.

Boston (1768). Ngày 30/9/1768, quân Anh bắt đầu chiếm đóng Boston. Theo sử gia George Trevelyan, chính quyền thành phố đáp trả bằng cách kháng cự một cách thụ động, nhưng rất hiệu quả và khiến phía Anh vô cùng bực bội.

Các viên đại tá Anh yêu cầu Hội đồng thành phố lo chỗ ở và lương thực cho lính. Hội đồng đáp rằng theo luật, thành phố chỉ phải lo khi doanh trại ở pháo đài Castle đã đầy. Cả hai bên đều hiểu rõ quân Anh được đưa đến không phải để bảo vệ pháo đài (nằm trên một hòn đảo ngoài vịnh), mà để chiếm đóng và gây khó dễ cho thành phố.

Khi Tướng Gage, Tổng tư lệnh quân Anh ở Mỹ, đến Boston, ông thấy lính của mình phải ngủ lều ngoài bãi Common trong lúc mùa đông sắp đến. Ông đành phải thuê nhà dân với giá rất đắt, và Ngân khố Anh phải trả toàn bộ số tiền này.

Cho đến khi cuộc đấu tranh chuyển sang vũ trang vào năm 1775, các cuộc họp thị trấn và hội đồng lập pháp của các thuộc địa nhiều lần chủ động đứng ra tổ chức các cuộc tẩy chay kinh tế. Đây là vũ khí chính của người dân thuộc địa trong cuộc đối đầu với chính quyền London.

Chú thích: Ý là Hội đồng thành phố dùng chính luật của Anh để từ chối.

Theo Luật Đóng quân, khi quân đội Anh đến một nơi, họ phải ở trong doanh trại có sẵn trước. Ở Boston, doanh trại đó nằm trong pháo đài Castle. Chỉ khi pháo đài đã chật, không còn chỗ chứa thêm lính, thì thành phố mới có nghĩa vụ tìm thêm nhà cửa và lương thực cho số lính còn lại.

Lúc đó pháo đài Castle vẫn còn chỗ trống. Vì vậy Hội đồng nói: “Theo luật, chưa đến lượt chúng tôi lo.” Nghĩa là họ từ chối, nhưng không nói thẳng “chúng tôi không chịu”, mà viện dẫn đúng điều luật mà phía Anh đặt ra.

Các viên đại tá Anh cũng biết lý do thật sự: họ không chọn ở pháo đài (nằm trên đảo ngoài vịnh) vì mục đích của họ là đóng quân ngay trong thành phố để chiếm đóng và gây áp lực lên người dân. Nhưng họ không có cơ sở pháp lý để ép Hội đồng, nên cuối cùng Tướng Gage phải tự bỏ tiền ra thuê nhà dân với giá đắt.

Học thuyết “vô hiệu hóa” ở Mỹ. Khi Hoa Kỳ mới thành lập, có một câu hỏi lớn về Hiến pháp: ai sẽ là người quyết định một đạo luật hay hành động của chính quyền đã vượt quá quyền hạn mà Hiến pháp cho phép?

Không lâu sau, Tòa án Tối cao nhận vai trò này. Nhưng đó không phải cách duy nhất. Thomas Jefferson và James Madison đưa ra một ý tưởng khác, gọi là “vô hiệu hóa”. Theo ý tưởng này, cơ quan lập pháp của một bang có thể tự quyết định rằng một đạo luật do Quốc hội liên bang ban hành là trái Hiến pháp. Khi đó, đạo luật ấy coi như vô giá trị và không có hiệu lực trong phạm vi bang đó. Ý tưởng này là cơ sở cho Nghị quyết Virginia năm 1798 và Nghị quyết Kentucky năm 1798 và 1799.

Jefferson lo rằng chính quyền liên bang mới đang có xu hướng đi ngược lại tinh thần dân chủ. Ông cho rằng Đạo luật Ngoại kiều và Chống phản loạn (luật cho phép trừng phạt những người chỉ trích chính quyền) mới chỉ là bước đầu. Vì vậy, ông kết luận cần có một “hàng rào” vững chắc để ngăn chính quyền liên bang lấn quyền. Ông âm thầm tham gia soạn các nghị quyết này, còn Madison là người đứng ra trình chúng ở Hội đồng Virginia. Một nghị quyết của Kentucky năm 1798 nêu rõ: các bang không gia nhập liên bang với điều kiện phải phục tùng chính quyền chung vô điều kiện. Các bang chỉ lập ra chính quyền chung để làm một số việc nhất định. Nếu chính quyền này tự nhận những quyền không được giao cho mình, thì những hành động đó không có thẩm quyền, vô giá trị và không có hiệu lực. Nghị quyết cũng khẳng định rằng người có quyền phán xét khi nào Hiến pháp bị vượt quá phải là chính các bang, chứ không phải chính quyền liên bang.

Một nghị quyết của Virginia năm 1798 nói rằng: khi chính quyền liên bang làm quá quyền hạn mà Hiến pháp cho phép, các bang không chỉ có quyền mà còn có bổn phận phải đứng ra can thiệp. Mục đích là chặn tình trạng sai trái này lan rộng, đồng thời bảo vệ quyền hạn, quyền lợi và tự do của người dân trong phạm vi bang mình. Nghị quyết Kentucky năm 1799 thì đưa ra lời cảnh báo. Nếu chính quyền liên bang cứ mở rộng hoạt động vượt khỏi giới hạn Hiến pháp, các chính quyền bang cuối cùng sẽ bị xóa sổ. Nghị quyết cũng cho rằng nếu chỉ chính quyền liên bang được tự phán xét xem mình có quyền đến đâu, còn các bang không có tiếng nói, thì quyền lực liên bang sẽ ngày càng lớn lên, và rốt cuộc dẫn đến chuyên chế (một chế độ nắm quyền tuyệt đối, không bị giới hạn).

Lý thuyết “vô hiệu hóa” này về sau được Phó Tổng thống John C. Calhoun sử dụng. Năm 1828, ông phản đối đạo luật thuế quan của năm đó và cho rằng một bang có quyền tuyên bố vô hiệu, ngay trong lãnh thổ của mình, bất kỳ đạo luật nào mà bang đó cho là trái Hiến pháp. Calhoun xem đây là một lựa chọn thay cho việc ly khai, và là cách để bảo vệ Hiến pháp. Về sau, một số bang đẩy học thuyết này đi xa hơn, thành việc ly khai thật sự khỏi Liên bang. Bản thân việc ly khai chưa phải là chiến tranh. Nó chỉ trở thành chiến tranh khi quân Liên bang và quân ly khai bắt đầu đụng độ vũ trang. 

(Tác giả nêu một tình huống giả định: nếu miền Nam không có chế độ nô lệ, thì có thể đã khác. Chế độ nô lệ là thứ không thể giữ được bằng cách bất bạo động, vì nó luôn cần cưỡng ép và bạo lực. Nhưng giả sử miền Nam không có nó, mà vẫn muốn ly khai vì một lý do khác. Khi đó, họ có thể tuyên bố ly khai rồi đơn giản là ngừng hợp tác với chính quyền liên bang, trên quy mô cả xã hội, mà không dùng vũ lực. Nếu xã hội miền Nam lúc ấy là một xã hội hoàn toàn khác, lực lượng liên bang sẽ rất khó đàn áp họ, vì không thể dùng súng để buộc cả một xã hội đang bất hợp tác phải nghe theo.)

Phần Lan (1910). Năm 1910, chính quyền Nga muốn kiểm soát Phần Lan chặt hơn bằng một dự luật đang được bàn ở thủ đô St. Petersburg. Luật này sẽ chính thức đặt Phần Lan dưới quyền chính quyền Nga. Nga sợ nếu hỏi thẳng thì quốc hội Phần Lan sẽ bỏ phiếu bác bỏ, như vậy sẽ rất mất mặt. Nên họ chọn cách nhẹ hơn: chỉ yêu cầu người Phần Lan soạn một bản báo cáo góp ý về luật, chứ không bắt phải bỏ phiếu đồng ý hay không. Nhưng quốc hội Phần Lan vẫn từ chối soạn báo cáo. Lý do họ đưa ra là: những vấn đề này thuộc quyền lập pháp của chính họ, chứ không phải của người Nga. Nếu họ soạn báo cáo, tức là họ đã thừa nhận Nga có quyền quyết định chuyện này.

Đức thời Weimar. Như đã đề cập trước đây, các bang (Länder) của Đức dưới Cộng hòa Weimar, theo lời kêu gọi của chính phủ hợp pháp của Ebert, đã từ chối hợp tác với nhóm đảo chính cướp quyền do Kapp và Tướng Lüttwitz cầm đầu.

Ấn Độ (1930-31). Trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Hội đồng thành phố Ahmedabad báo với các quan chức Anh rằng họ không thể hợp tác với cuộc tổng điều tra sắp tới, vì Quốc đại Ấn Độ đã quyết định tẩy chay nó. Họ nói dân chúng phản đối rất mạnh và kiên quyết, nên nếu tham gia, Hội đồng sẽ không nhận được sự hợp tác của người dân. Hơn nữa, nếu Hội đồng được cho là đại diện cho công chúng, thì không nên làm điều trái với dư luận.


Đăng ngày

trong

Thẻ: