Phong Trào Duy Tân

198 phương thức bất bạo động. Chương 5, Mục 4: Hành động của nhân viên chính phủ

Nguồn: Gene Sharp. The Politics of Nonviolent Action.

Phong trào Duy Tân dịch.

Chương 5. Bất hợp tác chính trị

Mục 5.4. Hành động của nhân viên chính phủ

142. Từ chối hỗ trợ có chọn lọc của các nhân viên chính quyền

Nhân viên nhà nước, quản trị viên, quan chức, nhân viên và sĩ quan, dù riêng lẻ hay cùng nhau, có thể từ chối thực hiện một số chỉ thị hoặc mệnh lệnh nhất định và báo cho cấp trên biết về việc từ chối đó. Việc từ chối này diễn ra rõ ràng và công khai, ít nhất là với cấp trên. Đây là điểm khác với các hình thức lẩn tránh và cản trở kín đáo hơn được mô tả ở phần sau. Việc từ chối có thể được công bố ra công chúng hoặc không.

Các ví dụ ở đây đều liên quan đến nước Đức Quốc xã. Chẳng hạn, tháng 3 năm 1942, Goebbels than phiền rằng mỗi khi ông yêu cầu áp dụng các biện pháp “công lý” khắc nghiệt, Schlegelberger, thứ trưởng phụ trách vấn đề này ở Bộ Tư pháp, luôn từ chối vì cho rằng không có cơ sở pháp lý để hành động. Sau đó, Goebbels lại viết về nhu cầu “trừng phạt tàn nhẫn”, nhưng một lần nữa phàn nàn rằng Bộ Tư pháp không chịu làm theo. Ông cho rằng Bộ này không hiểu nổi một lập luận hiển nhiên như vậy và vẫn bám vào các thủ tục hình thức. Sau đó, luật được sửa đổi để loại bỏ cơ sở pháp lý mà Bộ Tư pháp dùng làm lý do từ chối.

Cuối năm 1938, Đảng Quốc xã ở khu Franken (Gau Franken) muốn tranh thủ việc sắp tới người Do Thái sẽ bị tước đoạt tài sản. Họ gọi người Do Thái trong khu đến và ép họ ký giấy chuyển tài sản cho thành phố Fürth, cho khu đảng hoặc một cơ quan khác, gần như không trả tiền bồi thường. Tuy nhiên, một số viên chức tòa án nghi ngờ thủ tục này không hợp pháp nên từ chối ghi các giao dịch vào sổ địa chính (Grundbuch). Nhờ vậy, các vụ chuyển nhượng không có hiệu lực.

Hitler đôi khi bị các sĩ quan quân đội thẳng thừng từ chối mệnh lệnh, kể cả sau khi ông ta đã trở thành Tổng tư lệnh. Chẳng hạn, năm 1941, ông đến thăm bộ chỉ huy Cụm Tập đoàn quân Trung tâm ở Borisov trên mặt trận Nga và lập tức gặp bất đồng gay gắt về chiến lược và cách sử dụng lực lượng. Hitler muốn tập trung vào Leningrad và Ukraina, còn các sĩ quan muốn dồn sức cho chiến dịch Moscow. Khi Hitler ra lệnh chuyển hai Tập đoàn quân Xe tăng do Hoth và Guderian chỉ huy, ông gặp phải sự từ chối dứt khoát. Họ viện cớ các đơn vị cần hai đến ba tuần để tái tổ chức và sửa chữa. Hai chỉ huy này được các đồng nghiệp ủng hộ, kể cả Bộ Chiến tranh và Cụm Tập đoàn quân Trung tâm, tất cả cùng đứng chung một chiến tuyến chống lại Hitler. Ông tin rằng họ không muốn làm chứ không phải không thể làm. Hitler dường như đã đúng ở điểm này.

Bộ Tổng tư lệnh Lục quân Đức (O.K.H.) rất lo ngại về những rủi ro và nguy hiểm quân sự của kế hoạch xâm lược Đan Mạch và Na Uy mà Hitler đề ra. Bất chấp cơn giận của Hitler, họ thẳng thừng từ chối tham gia các công tác chuẩn bị ban đầu. Vì vậy, chiến dịch ở Bắc Âu sau đó hoàn toàn do O.K.W. (Bộ Tổng tư lệnh Các lực lượng vũ trang) lập kế hoạch.

Các quan chức Đức phụ trách việc trục xuất người Do Thái ở Đan Mạch không có lực lượng riêng và cũng không thể trông cậy vào sự giúp đỡ của người Đan Mạch. Họ phải điều các đơn vị Cảnh sát Trật tự từ Đức sang (vì ở Đan Mạch không có cảnh sát Đức), rồi nhờ quân đội chiếm đóng của Đức hỗ trợ. Nhưng Tướng Hermann von Hannecken từ chối điều quân của mình làm việc này, cũng không chịu ra lệnh buộc người Do Thái phải đến các văn phòng quân đội để “làm việc”. Vì vậy, cảnh sát buộc phải đi khám xét từng nhà. Hannecken cố xin hoãn bằng cách can thiệp ở Berlin nhưng không thành, sau đó ông chỉ đồng ý hợp tác ở mức cung cấp 50 binh sĩ phong tỏa khu vực bến cảng khi người Do Thái được đưa lên tàu. Ông lập luận rằng đây chỉ là giữ gìn trật tự, chứ không phải quân đội tham gia “bắt giữ” người Do Thái.

143. Chặn đường truyền mệnh lệnh và thông tin

Cấp dưới có thể làm suy yếu nhà cai trị bằng cách âm thầm không truyền lệnh, không thi hành lệnh, hoặc không báo thông tin lên trên. Việc giữ lại thông tin về kinh tế, dư luận, nguồn cung hay các tổ chức kháng cự bí mật khiến chính quyền rất khó đối phó với vấn đề và khủng hoảng.

Ở nước Đức Quốc xã, việc chặn thông tin đã đi đến mức cực đoan. Những quan chức được cho là trung thành vẫn im lặng, thậm chí che chở cho những người mà họ biết đang âm mưu lật đổ và ám sát Hitler. Wheeler-Bennett mô tả như sau:

Trong O.K.W., một số người đứng đầu các bộ phận, chẳng hạn Canaris và Thomas, công khai không trung thành với chế độ, đến mức âm mưu lật đổ nó. Còn trong O.K.H., cả Tổng tư lệnh lẫn Tổng tham mưu trưởng đều biết, nếu không muốn nói là có tham gia, các cuộc trao đổi và hoạt động chống đối. Những hoạt động này ngày càng nhiều và quyết liệt hơn khi chiến tranh tiến triển, nhưng họ chưa bao giờ báo cho cơ quan an ninh.

Ngay cả Fritz Fromm, Tổng tư lệnh Lực lượng Dự bị, cũng không báo cáo hoạt động âm mưu của hai cấp dưới là Olbrich và Stauffenberg, dù bản thân Fromm không muốn trực tiếp tham gia âm mưu. Thống chế Keitel cho biết các sĩ quan trong Bộ Chiến tranh và cơ quan tình báo quân sự đã biết về âm mưu ám sát Hitler ngày 20 tháng 7 năm 1944 nhưng không báo cáo.

Một cách để phá vỡ hệ thống chỉ huy là không chuyển mệnh lệnh xuống cấp dưới, để những người cần thực hiện không bao giờ nhận được. Ví dụ, năm 1939, một nhóm tướng lĩnh Đức âm mưu ngăn chặn cuộc tấn công dự kiến vào các nước Đồng minh phương Tây và Luxembourg, Bỉ và Hà Lan, và họ coi đó là bước đi hướng tới hòa bình. Kế hoạch này phần lớn dựa vào việc họ không chịu hợp tác. Wheeler-Bennett viết rằng họ ngầm hiểu sẽ nhận lệnh trực tiếp từ Tổng tư lệnh, Tướng Walter von Brauchitsch (chính ông ta cũng là một người trong nhóm âm mưu), và đã đồng ý làm tê liệt cuộc tấn công bằng cách đơn giản là không truyền lệnh tấn công quan trọng xuống cấp dưới.

Đến tận năm 1940, nhân viên của tổ chức đối ngoại thuộc Đảng Quốc xã vẫn phải được nhắc nộp giấy tờ chứng minh mình có nguồn gốc Aryan. Phần lớn nhân viên trong văn phòng đã phớt lờ yêu cầu nộp hồ sơ trước đó, thậm chí không đưa ra lý do hay lời giải thích nào cho việc không tuân thủ.

Tháng 5 năm 1941, Hitler ban hành “Sắc lệnh Chính ủy” khét tiếng, yêu cầu xử tử các quan chức và lãnh đạo chính trị Cộng sản bị bắt ở vùng Liên Xô bị chiếm đóng, kể cả tù binh quân sự. Tuy nhiên, sắc lệnh này bị giảm hiệu lực vì một số sĩ quan từ chối truyền lệnh xuống cấp dưới. Thống chế Fedor von Bock, Tổng tư lệnh Cụm Tập đoàn quân Trung tâm, từ chối ban hành sắc lệnh. Thống chế Wilhelm von Leeb và Thượng tướng Erich Hoepner cũng làm như vậy. Theo Walter Görlitz, sắc lệnh chỉ được thực hiện một phần, chủ yếu trong những tháng đầu của cuộc chiến ở Mặt trận phía Đông. Sau đó, nó dần dần và âm thầm bị bỏ qua, đến năm 1942 thì không còn hiệu lực.

Bất hợp tác cũng có thể là phớt lờ những mệnh lệnh đã nhận được, thay vì tuân theo hay công khai từ chối. Đây không phải do quên đơn thuần hay làm việc kém hiệu quả ngoài ý muốn, mà là do người nhận không đồng tình hoặc phản đối mệnh lệnh nên cố tình bỏ qua. Chẳng hạn, ở Trung Quốc Cộng sản giai đoạn 1950-1963, việc kiểm soát tiền của các doanh nghiệp bị lỏng lẻo. Nguyên nhân một phần là do các quản lý nhà máy thường phớt lờ hầu hết quy định tài chính, một phần khác là do ngay cả các quan chức cấp cao của Đảng cũng không đồng tình với việc kiểm soát tài chính quá chặt.

Ngày 7 tháng 9 năm 1942, Bộ Phương Đông chỉ thị cho Ủy viên Đế chế Erich Koch ở Ukraina tịch thu toàn bộ tài sản của người Do Thái và các tài sản bị bỏ hoang khác, đồng thời dùng các cựu sĩ quan và công chức Ukraina để làm việc này. Nhưng Koch phớt lờ chỉ thị. Đến ngày 16 tháng 3 năm 1943, ông báo với Alfred Rosenberg rằng sắc lệnh này là điều không thể thực hiện được về mặt chính trị và tổ chức. Rosenberg là người đứng đầu Bộ Phương Đông (Ostministerium), cơ quan quản lý dân sự các vùng lãnh thổ phía Đông bị chiếm đóng.

144. Trì hoãn và cản trở

Quan chức hành chính và nhân viên nhà nước có thể thể hiện sự bất hợp tác chính trị bằng cách trì hoãn và cản trở, trong khi bề ngoài vẫn tỏ ra tuân theo một mệnh lệnh hay chính sách nào đó. Cách này thuộc loại mà Sir Basil Liddell Hart gọi là “bề ngoài chấp nhận nhưng thực chất che giấu và đi kèm một chiến lược không tuân thủ”. Nó còn được gọi là “chiến thuật Fabian” hay “trì hoãn lịch sự”. Theo Liddell Hart, cách này có thể kéo dài và áp dụng rộng rãi hơn các cách khác. Nhờ vậy, phía chiếm đóng nhận được rất ít và ngày càng thấy bực bội. Cách này còn khó đối phó hơn nếu người thực hiện luôn vui vẻ, làm như mình chỉ lỡ sai vì không hiểu hoặc vụng về. Mức độ tỏ ra ủng hộ và tuân thủ bên ngoài có thể nhiều hay ít tùy từng trường hợp.

Một lần nữa, tất cả các ví dụ ở đây, trừ một ví dụ, đều đến từ chính chế độ Quốc xã (nhất là bộ máy quan liêu của nó) hoặc từ các chính quyền bù nhìn hay thân Quốc xã. Ví dụ cuối cùng, về nước Séc, thì rất khác.

Goebbels nhiều lần than phiền rằng các bộ và cơ quan chính phủ thiếu sự lãnh đạo và chủ động trong việc thúc đẩy các biện pháp của Quốc xã, nhất là Bộ Tư pháp, nơi ông đã gặp khó khăn như đã nói ở trên. Ngày 19 tháng 3 năm 1942, Goebbels viết:

Chúng tôi đề xuất rất nhiều cải cách, cải tiến và dự thảo luật, nhưng chúng không có tác dụng như mong muốn, vì ở các cơ quan trung ương đang diễn ra một kiểu phá hoại ngấm ngầm. Tầng lớp tư sản chiếm ưu thế ở đó, và vì trời thì cao còn Quốc trưởng thì ở xa, nên thật sự rất khó để thắng nổi bộ máy quan liêu cứng đầu và vững chắc này.

Theo Goebbels, Hitler tin rằng cần có những biện pháp mạnh tay, không chỉ trong ngành tư pháp mà còn “chống lại một số kiểu tướng lĩnh ngồi bàn giấy và chống lại toàn bộ bộ máy quan liêu”. Gần một năm sau, vào tháng 3 năm 1943, Goebbels cho biết Hitler đồng ý với phần lớn đề xuất của ông về việc tiến hành “chiến tranh toàn diện” chống lại phe Đồng minh. Tuy nhiên, Hitler than phiền rằng bộ máy quan liêu luôn chống lại các biện pháp của họ, và có lúc sự chống đối này đơn giản là không thể chấp nhận được. Những trường hợp cụ thể ở đây liên quan đến cách đối xử với phi công Đồng minh bị bắt, nỗ lực phát triển vũ khí hạt nhân và các biện pháp chống người Do Thái.

Hitler hai lần định xử tử ngay, không cần xét xử, những phi công Đồng minh mà Đức gọi là “phi công khủng bố”. Cả hai lần, kế hoạch đều thất bại vì các quan chức dưới quyền cố tình kéo dài và cản trở. Görlitz cho rằng đây chỉ là một ví dụ của hiện tượng chung. Những ý định cực đoan của Hitler thường bị chặn lại bằng cách nói vòng vo và trì hoãn. Theo ông, các nhân vật có liên quan thường chỉ cần làm một việc: biến vấn đề thành một “cuộc chiến giấy tờ”, tức là trao đổi qua lại, soạn văn bản, xin ý kiến hết cấp này đến cấp khác. Họ kéo dài cho đến khi Hitler quên mất chuyện đó hoặc bắt đầu chú ý đến việc khác, và hồ sơ cứ thế bị bỏ vào kho lưu trữ.

Mùa hè năm 1944, Hitler muốn xử tàn bạo, không cần xét xử, những phi công Đồng minh bị bắt mà Đức gọi là “phi công khủng bố”. Nhưng kế hoạch không thành. Ba người đã cùng nhau cản lại: Thống chế Keitel (người đứng đầu Bộ Tổng tư lệnh quân đội Đức), Tướng Jodl (phụ trách tác chiến của bộ này) và Thống chế Göring (chỉ huy Không quân). Họ không công khai chống lại Hitler. Thay vào đó, họ giả vờ muốn làm rõ “phi công khủng bố” nghĩa là gì theo luật quốc tế, rồi kéo dài vấn đề bằng các bản ghi nhớ, những cuộc bàn bạc dài dòng và thư từ qua lại. Tháng 3 năm 1945, Hitler lại cố đưa ra chính sách này, lần này có Martin Bormann giúp. Một lần nữa kế hoạch bị cản, lần này bởi Thiếu tá Herbert Büchs (sĩ quan tham mưu không quân, phụ tá của Jodl), Keitel, Göring và Tướng Karl Koller (tham mưu trưởng tác chiến của Không quân). Kết quả là cả hai lần, mệnh lệnh mà Hitler muốn đều không bao giờ được ban hành.

Một lý do quan trọng khiến Đức Quốc xã không chế tạo được bom nguyên tử là các nhà khoa học hạt nhân trong dự án đã cố tình làm chậm và cản trở công việc. Họ không chỉ từ chối thúc đẩy việc làm bom mà còn tìm cách khiến người khác không chú ý đến ý tưởng này. Theo Robert Jungk, họ làm vậy một cách có tính toán. Họ không báo cáo các nghiên cứu lý thuyết sơ bộ lên cấp trên, chê đề xuất của người khác là phi thực tế dù về nguyên tắc vẫn làm được, cất kín các bản ghi nhớ nghiên cứu, và giấu quân đội việc chế tạo bom sắp trở nên khả thi. Trong suốt thời gian đó, họ vẫn giả vờ hợp tác. Họ không chọn đình công công khai vì cho rằng làm thế nguy hiểm: lĩnh vực này sẽ rơi vào tay những kẻ thiếu đạo đức và nhiều tham vọng. Vì vậy, chừng nào còn có thể tiếp tục kéo dài, họ chấp nhận rủi ro đó. Một lưu ý: đây là quan điểm của Jungk, và nhiều sử gia không đồng ý với nó. Họ cho rằng dự án của Đức thất bại chủ yếu do các yếu tố khác, như thiếu nguồn lực, tính toán sai về khối lượng vật liệu cần thiết và những hạn chế do chiến tranh, chứ không chủ yếu do sự cản trở có chủ ý của các nhà khoa học.

Nhiều biện pháp cực đoan nhất của Quốc xã nhằm vào người Do Thái, đặc biệt là những biện pháp liên quan đến diệt chủng, đã bị làm chậm lại và bị cản trở đáng kể. Tuy nhiên, những hành động bất hợp tác này không đủ rộng và không đủ hiệu quả để ngăn toàn bộ chiến dịch. Các ví dụ ở đây cũng không nhằm biện hộ hay minh oan cho bất kỳ cá nhân hay nhóm nào. Dù vậy, điều đáng chú ý là những hành động đó có thật và đã cứu sống nhiều người Do Thái. Sự trì hoãn và cản trở này xuất hiện ở nhiều nơi: trong bộ máy hành chính Đức, trong Bộ Ngoại giao, trong số các quan chức Đức cai trị vùng chiếm đóng ở phía Đông, và trong số quan chức của các nước đồng minh của Quốc xã, như Bulgaria, chính quyền Vichy ở Pháp và nước Ý dưới thời Mussolini.

Tháng 1 năm 1942, tại Hội nghị Wannsee, Reinhard Heydrich tuyên bố rằng những người Do Thái còn sống sau thời gian lao động cưỡng bức phải bị “xử lý”. Lý do ông ta đưa ra là không được thả họ, vì họ có thể bắt đầu “một sự phát triển mới của người Do Thái”. Nói cách khác, ông ta công bố chương trình tiêu diệt, tức “Giải pháp cuối cùng”. Sau hội nghị này, “một làn sóng cản trở bắt đầu lớn dần” trong nhiều văn phòng và bộ khác nhau. Tuy nhiên, mục tiêu của làn sóng ấy rất hạn chế: chỉ nhằm xin một số ngoại lệ, để chính sách không áp dụng cho người có vợ hoặc chồng là người Do Thái trong các cuộc hôn nhân hỗn hợp (một bên Do Thái, một bên không), và cho con cái của họ.

Trong Bộ Ngoại giao Đức, việc trục xuất người Do Thái do Phòng Deutschland phụ trách, và người đứng đầu phòng này là Martin Luther. Theo chính sách trục xuất lúc đó, người Do Thái của một số quốc tịch nhất định được loại trừ, tức là không bị trục xuất. Nhưng Bộ trưởng Ngoại giao Ribbentrop yêu cầu Luther viết một báo cáo xem có thể mở rộng việc trục xuất sang người Do Thái thuộc mọi quốc tịch hay không. Sau đó, Nam tước Ernst von Weizsäcker, người đứng đầu Bộ Ngoại giao ngay dưới Ribbentrop, chuyển báo cáo của Luther sang Emil Albrecht ở phòng pháp chế của Bộ. Ông hy vọng báo cáo sẽ bị “chôn” ở đó một thời gian. Đây là mánh ông thường dùng mỗi khi phải xử lý các việc liên quan đến Phòng Deutschland.

Heinrich Lohse, Ủy viên Đế chế ở Ostland (một khu hành chính trong vùng phía Đông bị Đức chiếm đóng), không hề vô can trong “Giải pháp cuối cùng”. Tuy vậy, ông đã góp phần làm chậm tiến trình và ngăn không cho các vụ thảm sát ở Riga được hoàn tất.

Diễn biến cụ thể:

  • Tháng 10 năm 1941: Lohse bị báo cáo lên Bộ Phương Đông của Rosenberg vì đã cản trở các vụ thảm sát ở Libau.
  • Ngày 15 tháng 11: ông hỏi cấp trên xem người Do Thái thuộc quyền mình có phải bị giết bất kể tình hình kinh tế hay không. Hơn một tháng sau, ông mới nhận được câu trả lời là phải.
  • Ngày 7 tháng 11: Lohse gửi điện cho Hingst, Ủy viên thành phố Vilna, nhắc đến những phản đối của Tướng Braemer.
  • Ngày 1 tháng 12: Braemer kêu gọi các ủy viên dân sự ngừng xử tử những người Do Thái “không thể thay thế” (tức những người mà nền kinh tế, quân đội cần đến). Hai ngày sau, Lohse phân phát bản tuyên bố đó.

Ở nhiều nơi khác, các quan chức cũng dùng cách trì hoãn và cản trở về hành chính, ngoại giao để làm hỏng các nỗ lực tiêu diệt của Quốc xã. Những nơi đó gồm Bulgaria (đối tác của phe Trục), chính quyền Vichy ở Pháp và nước Ý của Mussolini.

Điển hình là quân đội Ý chiếm đóng một phần nước Pháp, họ cản trở rất nhiều các lệnh trục xuất người Do Thái của Đức:

  • Tháng 12 năm 1942: Đức ra lệnh cho phía Ý trục xuất toàn bộ người Do Thái khỏi các vùng biên giới và ven biển của Pháp. Các sĩ quan Ý giải thích lại rằng lệnh này chỉ áp dụng cho người Do Thái gốc Pháp.
  • Vụ ở Grenoble: Tập đoàn quân số 4 của Ý ngăn Tỉnh trưởng Lyon bắt khoảng hai đến ba nghìn người Do Thái gốc Ba Lan ở khu vực Grenoble, và không cho đưa họ đến Auschwitz.
  • Phản ứng của Mussolini: Khi Ribbentrop phản đối việc này với chính Mussolini, ông ta nói thông cảm với yêu cầu của Đức, nhưng vẫn từ chối can thiệp vào các tướng lĩnh của mình. Các tướng tiếp tục thả những người Do Thái bị bắt. Mussolini giải thích rằng các sĩ quan Ý có “một nền tảng tư duy khác”.
  • Trục xuất trên danh nghĩa: Khi cảnh sát Ý thực sự đưa người Do Thái đi khỏi vùng ven biển, họ đưa những người này vào các khách sạn an toàn, nằm sâu trong khu vực do Ý kiểm soát.

Sự cản trở tương tự của phía Ý cũng xảy ra ở vùng Hy Lạp do Ý chiếm đóng và ở Khu quân sự II của Ý tại Croatia.

Chính quyền Vichy ở Pháp cũng chịu một phần trách nhiệm về số phận của nhiều người Do Thái, nhưng nhờ trì hoãn và cản trở về hành chính và ngoại giao, họ chắc chắn đã cứu được rất nhiều người. Pétain, Laval cùng các quan chức và cảnh sát cấp dưới đều góp phần vào cách làm này. Ủy ban về các vấn đề Do Thái chưa bao giờ chắc chắn được sự ủng hộ của Vichy, và cảnh sát của cơ quan này nhận được ngày càng ít sự hợp tác từ lực lượng hiến binh thông thường. Xavier Vallat, Ủy viên đầu tiên về các vấn đề Do Thái do Vichy bổ nhiệm, ngay từ đầu đã phản đối việc trục xuất người Do Thái mang quốc tịch Pháp (khác với người nước ngoài) và việc bắt đeo phù hiệu Do Thái. Ngay cả sau khi Đức chiếm đóng toàn bộ nước Pháp, việc đeo phù hiệu vẫn không thể áp dụng ở vùng lãnh thổ Vichy. Ở Bordeaux, cảnh sát Pháp chỉ bắt những người Do Thái không có quốc tịch nào để trục xuất, và chỉ bắt được 150 người. Con số quá ít này khiến Trung tá Karl Adolph Eichmann, người phụ trách toàn bộ hệ thống trục xuất người Do Thái đến nơi tiêu diệt, phải tự hỏi: liệu có nên bỏ luôn nước Pháp ra khỏi danh sách nơi lấy người để trục xuất hay không?

Đức yêu cầu Pháp ban hành một sắc lệnh tước quốc tịch của những người Do Thái nhập quốc tịch Pháp sau năm 1933. Nếu mất quốc tịch, họ sẽ có thể bị trục xuất. Laval không từ chối thẳng, mà tìm cách kéo dài thời gian. Cuối cùng, ông nói với phía Đức rằng Pétain, người phải ký phê chuẩn, rất không hài lòng với việc tước quốc tịch của phụ nữ và trẻ em. Ông còn nói thêm rằng chính ông đã làm mất bản dự thảo sắc lệnh. Vì bản dự thảo bị mất, mọi thứ phải làm lại từ đầu. Trước hết phải chờ ba tháng để người Do Thái có thể phản đối. Sau đó mới đưa được bản mới lên Hội đồng Bộ trưởng, và còn cần Ý đồng ý. Laval cũng nói rằng trong thời gian chờ đó, cảnh sát Pháp không thể giúp truy bắt người Do Thái.

Nhà sử học Gerald Reitlinger, trong cuốn The Final Solution (Giải pháp cuối cùng), nhận xét rằng Gestapo (mật vụ Đức) bỗng trở nên “bất lực lạ lùng” ở Pháp, vì không được cả Bộ Tổng tư lệnh lẫn Bộ Ngoại giao ủng hộ. Ông cho rằng có lẽ Hitler đã mất hứng thú với việc tiêu diệt người Do Thái ở Pháp. Hitler vốn không quan tâm đến dư luận thế giới và không chịu nghe lẽ phải, vậy mà vẫn có thể bị cản hoàn toàn bằng cách làm chậm dần từng bước.Theo Reitlinger, nếu không có cảnh sát Pháp hợp tác thì không thể truy bắt người Do Thái trên quy mô lớn. Ngay cả sau khi Ý ngừng bảo vệ người Do Thái ở Pháp vào ngày 8 tháng 9 năm 1943, cũng chỉ có ba chuyến tàu chở người từ ga Drancy đến trại Auschwitz.

Lưu ý: đây là nhận định của riêng Reitlinger. Con số “ba chuyến tàu” có lẽ chỉ đúng trong một khoảng thời gian ngắn, vì các chuyến trục xuất từ Pháp vẫn tiếp tục sau đó.

Trong những ngày đầu Liên Xô chiếm đóng Tiệp Khắc, các đài phát thanh bí mật đóng vai trò rất quan trọng. Chúng tiếp tục ủng hộ chính phủ hợp pháp và Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, đồng thời kêu gọi người dân kháng cự bất bạo động chống lại cuộc chiếm đóng và bất kỳ chính quyền bù nhìn nào có thể được dựng lên. Để chặn các chương trình này, quân Nga cố chở bằng đường sắt một thiết bị gây nhiễu sóng (có báo cáo nói đó là thiết bị dò tìm đài phát). Ngày 27 tháng 8 năm 1968, báo Politika ở Praha đăng lời kể của một công nhân đường sắt Tiệp Khắc tham gia vụ này, về cách chuyến tàu đó đã được “giúp đỡ”:

Tôi nói thẳng, đoàn tàu đó lẽ ra phải bị chặn lại ở Cierna (gần biên giới). Nhưng nhìn nó chẳng có gì lạ, chỉ có điều nó rất ngắn, chỉ tám toa. Lúc đầu chúng tôi định cho nó trật bánh, nhưng làm vậy có thể gây hậu quả khủng khiếp. Gần Olomouc, nó chạy vượt lên trước một đoàn tàu hàng dài. Sau đó nó “tình cờ” bị tách thành ba đoạn, và phải mất bốn giờ mới sửa xong, đúng theo mọi quy định. Rồi tôi kiệt sức. Một công nhân bảo trì khác lại mất thêm bốn giờ để sửa. Sau đó nó chạy tiếp đến Trebova, và chạy đến tận Chocen trong lúc việc sửa chữa vẫn diễn ra liên tục. Từ đó chúng tôi định lái họ sang Ba Lan, nhưng lúc đó họ đã có bản đồ.

Bỗng nhiên người Nga phải vội, vì họ đã ăn hết lương thực mang theo trong hai toa khách của mình.

Trước ga Moravany, chúng tôi cho dây điện trên cao rơi xuống, và đoàn tàu bị vướng vào đống dây đó. Hai đội bảo trì đến gỡ mà vẫn không nối lại được. Người Nga bắt đầu sốt ruột. Họ muốn cho cỗ máy chạy bằng ắc quy, và không hiểu vì sao không được, trong khi mọi thiết bị trông đều hoạt động bình thường.

Ở Pardubice, họ đòi dùng động cơ hơi nước, nhưng chúng tôi bảo tuyến này chạy bằng điện. Ở Prelouc, chúng tôi tháo một đoạn đường ray rồi làm rơi một đoạn dây điện, nên họ quyết định đi vòng qua Hradec. Ở Steblova, dây điện lại bị làm rơi. Đó là đoạn đường đơn, nên họ không còn cách nào, ít nhất là không thể làm nhanh được.

Sau đó, sáu trực thăng Liên Xô đến đón các nhân viên điều độ của chúng tôi để làm con tin. Chúng tôi cho mười lăm đoàn tàu hàng chạy phía trước họ, nhiều đến mức không bãi tàu nào ở Praha chứa nổi. Tàu của chính chúng tôi cũng bị ảnh hưởng, mọi thứ đều chậm lại. Bản thân tôi đến Kolin trên một chuyến tàu khách hoàn toàn trống.

Bây giờ họ đang ở đâu đó quanh Lysa, bên sông Elbe. Nhưng một trò phá rối khôn khéo kiểu Švejk (nhân vật “Anh lính tốt Švejk” nổi tiếng vì giả ngốc để gây rối cho cấp trên) như thế này không thể kéo dài mãi.

Đài phát thanh Tiệp Khắc ngày 25 tháng 8 đưa tin đoàn tàu đã bị dừng ở Lysa nad Labem và thiết bị gây nhiễu đang được chuyển sang máy bay trực thăng của Nga.

145. Bất hợp tác hành chính trên diện rộng: công chức đồng loạt từ chối làm việc cho chính quyền cướp quyền

Nếu phần lớn nhân viên hành chính trong bộ máy nhà nước cùng từ chối làm việc, họ có thể làm cho một chế độ cướp quyền không thể điều hành đất nước. Chế độ cướp quyền là chế độ nắm quyền không chính đáng, ví dụ như quân đội nước ngoài đang chiếm đóng, hoặc một nhóm đã chiếm bộ máy nhà nước bằng đảo chính hay các cách trái luật khác.

Ví dụ, năm 1917, sau cuộc cách mạng lật đổ Sa hoàng, nước Nga được điều hành bởi Chính phủ Lâm thời do Kerensky đứng đầu. Đến tháng 10 năm 1917, phe Bolshevik lật đổ chính phủ này và giành quyền lực. Ngay sau đó, các công chức tẩy chay chính quyền mới. Họ không thi hành mệnh lệnh của những người mới nắm quyền. Ở Bộ Phúc lợi Công cộng, gần như toàn bộ viên chức đình công, chỉ có khoảng bốn mươi người vẫn đi làm.

Cách bất hợp tác này cũng từng phát huy tác dụng ở Đức. Năm 1920, nhóm của ông Kapp làm đảo chính ở Berlin, định lật đổ Cộng hòa Weimar, tức chính phủ dân chủ của nước Đức lúc đó. Công chức từ chối làm việc cho những kẻ đảo chính, còn người lao động thì đình công. Vì vậy, mệnh lệnh của họ không được thi hành, bộ máy nhà nước không vận hành được, và họ không thể điều hành đất nước. Như đã nói ở phần trước, đây là một yếu tố quan trọng khiến cuộc đảo chính Kapp thất bại.

146. Bất hợp tác trong ngành tư pháp

Đây là kiểu bất hợp tác ngay bên trong bộ máy chính quyền. Nó xảy ra khi những người làm trong ngành tư pháp, như thẩm phán và bồi thẩm viên, từ chối làm theo ý muốn của chế độ, hoặc của một bộ phận khác trong ngành tư pháp.

Ví dụ, bồi thẩm đoàn có thể từ chối kết tội một tù nhân chính trị, dù thẩm phán chủ tọa muốn ông ta bị kết tội. Tòa án cũng có thể tuyên bố một đạo luật hay chính sách là vi hiến, và đó cũng là một cách bất hợp tác với chế độ. Hoặc một thẩm phán có thể từ chối kết án hay trừng phạt, dù có bằng chứng và dù công tố viên yêu cầu.

Cả một cơ quan tư pháp cũng có thể đồng loạt từ chức để phản đối việc kẻ cướp quyền xâm phạm sự độc lập của tòa án. Chẳng hạn, tháng 12 năm 1940, Tòa án Tối cao Na Uy từ chức tập thể. Họ phản đối việc Terboven, viên Ủy viên Đế chế của Đức, tuyên bố rằng tòa không có quyền cho rằng các “luật” do quân Đức chiếm đóng đặt ra là vi hiến.

Làm vô hiệu một đạo luật bằng cách không hợp tác: trường hợp nước Anh

Bất hợp tác trong ngành tư pháp cũng có thể diễn ra ngay trong hệ thống tòa án. Một ví dụ đáng chú ý là việc bãi bỏ án tử hình đối với tội trộm cắp vặt ở nước Anh vào đầu thế kỷ 19.

Luật lúc đó quy định: nếu hàng bị trộm có giá trị từ một mức nhất định trở lên thì kẻ trộm bị xử tử. Nhiều bồi thẩm đoàn không muốn người ta bị treo cổ, nên cố ý định giá món hàng thấp hơn mức đó một penny hay một shilling, bất kể giá thật là bao nhiêu. Arthur Koestler viết:

“Nỗi sợ giá treo cổ ảnh hưởng đến bồi thẩm đoàn nhiều hơn là đến kẻ phạm tội. Có thể nói các bồi thẩm đoàn đã đình công. Khi trộm hàng trị giá bốn mươi shilling bị xử tử, họ lập thành nguyên tắc là định giá hàng ở mức ba mươi chín shilling. Khi năm 1827 mức này được nâng lên năm bảng, họ cũng nâng mức định giá lên bốn bảng mười chín shilling.”

Có bồi thẩm đoàn còn thẳng thừng từ chối kết tội những người phạm các tội khác về tài sản, như làm giả tiền giấy ngân hàng. Chính các thương nhân và chủ ngân hàng cũng đòi bỏ án tử hình, để các tội đó có thể bị trừng phạt bằng cách khác, hiệu quả hơn. Cuối cùng, luật được sửa vào các năm 1837 và 1861, bỏ hình phạt treo cổ đối với các tội xâm phạm tài sản.

Bồi thẩm đoàn công khai không nghe lời thẩm phán

Đôi khi, bồi thẩm đoàn công khai không tuân theo chỉ dẫn của thẩm phán khi thấy chỉ dẫn đó vô lý. Năm 1670, William Penn và William Mead bị bắt vì tội “tụ tập trái phép và gây rối” tại một buổi họp của giáo phái Quaker. Lúc đó lính đã chặn cửa ngôi nhà nơi buổi họp định diễn ra, nên Penn phải nói chuyện với mọi người ở ngoài trời.

Phiên tòa này rất đặc biệt. Khi đến lúc đưa ra phán quyết, bồi thẩm đoàn tuyên Mead “không có tội”, còn Penn chỉ “có tội nói hay thuyết giảng trước một đám đông”. Nhưng điều đó không phải là tội, nên đây không phải là một phán quyết hợp pháp. Trưởng bồi thẩm đoàn cũng từ chối nói buổi tụ tập mà Penn phát biểu là hợp pháp hay bất hợp pháp.

Một trong hai thẩm phán của vụ án, người giữ chức Recorder (quan tòa của thành phố), dọa sẽ giam bồi thẩm đoàn vô thời hạn nếu họ không đổi ý. Dù vậy, bồi thẩm đoàn vẫn giữ nguyên phán quyết cũ.

Recorder bèn tuyên bố:

“Các ông sẽ không được về cho đến khi đưa ra một phán quyết mà tòa chấp nhận. Các ông sẽ bị nhốt lại, không có đồ ăn, không có lửa sưởi, không có nước uống, không có thuốc lá. Đừng tưởng có thể coi thường tòa án như vậy. Chúng ta nhất định phải có phán quyết, nếu không thì các ông sẽ chết đói.”

Sau hai đêm bị giam như thế, bồi thẩm đoàn tuyên Penn “không có tội”. Dù vậy, cả hai bị cáo và bồi thẩm đoàn đều bị phạt vì tội coi thường tòa. Một năm sau, một tòa cấp cao hơn phán rằng bồi thẩm đoàn đã đúng và việc giam giữ họ là trái luật.

147. Cảnh sát và binh sĩ cố ý làm việc kém hoặc từ chối một số mệnh lệnh

Cảnh sát, binh sĩ và các lực lượng thực thi pháp luật đôi khi cố tình làm việc qua loa. Họ có thể làm vậy vì quan điểm chính trị, vì thông cảm với người chống đối, hoặc vì không muốn tham gia đàn áp. Họ cũng có thể từ chối một số mệnh lệnh nhất định, nhưng chưa đến mức gọi là binh biến (nổi dậy chống lại cấp trên).

Việc này càng phổ biến thì chính quyền càng khó thực hiện ý muốn của mình, và sự đàn áp càng bớt nặng nề. Dưới đây là một số ví dụ từ nước Nga thời Sa hoàng, Ấn Độ thời Anh cai trị và Na Uy thời bị Đức chiếm đóng.

Những ví dụ về việc cố ý làm việc kém

Nga thời Sa hoàng. A. T. Vassilyev, cựu lãnh đạo Ochrana (cơ quan mật vụ của Sa hoàng), kể rằng luật cấm người Do Thái sống ở một số tỉnh bị lách liên tục. Rất nhiều người Do Thái vẫn sống ở những thị trấn bị cấm, với sự đồng ý ngầm của chính quyền. Cảnh sát tỏ ra khoan dung và nhắm mắt làm ngơ.

Ấn Độ năm 1930. Trong cuộc biểu tình bất bạo động tại kho muối Dharasana, cảnh sát Ấn Độ được lệnh dùng gậy tre bọc thép đánh những người tham gia. Nhưng không phải lúc nào họ cũng làm đến nơi đến chốn. Nhân chứng Webb Miller kể rằng phần lớn thời gian cảnh sát địa phương có vẻ không muốn ra tay. Khi sĩ quan chỉ huy bận ở chỗ khác, họ đánh nhẹ tay lại. Chỉ khi sĩ quan quay lại, họ mới lại đe dọa và đánh đập.

Đức Quốc xã. Năm 1941, ở Hannover, cựu Giám đốc Gestapo Rudolf Diels từ chối lệnh bắt người Do Thái của Gauleiter (người đứng đầu đảng Quốc xã ở một vùng). Bá tước Faber-Castell từ chối xử bắn năm trăm người Do Thái ở Ba Lan. Cả hai đều không bị phạt nặng. Tháng 9 năm 1942, Trung tướng SS Hans Rauter than phiền rằng cảnh sát Hà Lan hầu như không chịu giúp truy bắt người Do Thái.

Na Uy bị chiếm đóng. Cả cảnh sát Na Uy lẫn lính Đức đôi khi cố tình làm việc kém, giúp người bị truy bắt trốn thoát, hoặc bắt người ít hơn nhiều so với mong đợi.

  • Có một cảnh sát Na Uy được cử đi bắt một người Do Thái, nhưng người này không có ở nhà. Ông để lại lời nhắn rằng sẽ quay lại lúc mười hai giờ trưa. Nhờ vậy người đó có thời gian thu dọn đồ và bỏ trốn.
  • Trong đợt truy quét đầu tiên, nhiều người Do Thái đã được báo trước. Điều tương tự lặp lại trước ngày 26 tháng 11 năm 1942, khi những người Do Thái còn lại, gồm cả phụ nữ và trẻ em, bị bắt. Cảnh sát Na Uy báo cho lực lượng kháng chiến biết trước các vụ bắt giữ, và có người còn tự đến cảnh báo người Do Thái vào đêm hôm trước.
  • Ngày 30 tháng 11 năm 1943, nhiều sinh viên Đại học Oslo bị bắt. Lính Đức đến nhà các sinh viên thường tin lời người ra mở cửa rằng sinh viên không có nhà, rồi bỏ đi mà không vào khám. Nhờ vậy nhiều sinh viên thoát nạn.

Cảnh sát Na Uy công khai từ chối hợp tác

Ngoài việc làm kém, trong cảnh sát Na Uy cũng có những vụ công khai từ chối hợp tác và phớt lờ mệnh lệnh. Tuy vậy, không thể nói cảnh sát Na Uy nói chung đã từ chối hợp tác với chủ nghĩa phát xít. Những hành động này được ghi lại bởi Lars L’Abée-Lund, sau này là Trưởng phòng Cảnh sát Hình sự Oslo và thẩm phán phúc thẩm.

Cảnh sát trưởng Welhaven. Ngày 6 tháng 4 năm 1940, quân Đức tiến vào Oslo. Cùng ngày, Vidkun Quisling, lãnh đạo đảng phát xít Na Uy Nasjonal Samling, tự xưng là Thủ tướng và ra lệnh cho Kristian Welhaven, Cảnh sát trưởng Oslo, đến gặp mình. Welhaven không đến. Hôm sau Quisling gọi điện hỏi lý do, Welhaven đáp rằng ông vẫn ở văn phòng của mình và Quisling có thể đến gặp nếu muốn. Lúc đó Quisling đành chịu. Nhưng đến tháng 9, Ủy viên Đế chế Terboven cho phép cách chức và bắt Welhaven. Ông bị giam ở trại Grini (Na Uy), sau đó bị chuyển sang trụ sở Gestapo ở Berlin, rồi đến Bavaria. Đầu năm 1945 ông được thả nhờ các cuộc đàm phán do Bá tước Folke Bernadotte của Thụy Điển tiến hành.

Không phải cảnh sát nào cũng làm theo Welhaven. Chỉ trong thời gian ngắn, gần như toàn bộ quan chức cảnh sát cấp cao đã vào đảng phát xít. Sáu mươi phần trăm số sĩ quan, kể cả các phó cảnh sát trưởng, tự nguyện gia nhập đảng của Quisling. Khoảng bốn mươi phần trăm số cảnh sát còn lại cũng vào đảng. Dù vậy, theo L’Abée-Lund, chế độ vẫn không thể dựa vào lực lượng cảnh sát.

Vụ chào kiểu phát xít (tháng 7 năm 1940). Cảnh sát bị lệnh phải chào bằng cách giơ thẳng cánh tay phải. Sự bất bình trong cảnh sát rất lớn. Ở Oslo, lực lượng tại trụ sở từ chối ra làm nhiệm vụ. Ở Kristiansand, cảnh sát trưởng, một trong số ít người không thuộc đảng phát xít, đã từ chức, và các trợ lý của ông cũng từ chức theo. Ông bị bắt, tiếp tục từ chối tuân lệnh, bị bỏ tù rồi bị trục xuất sang Đức.

Vụ tịch thu lương thực (mùa thu 1941). Ba phó cảnh sát trưởng của cảnh sát hình sự Oslo từ chối ký xác nhận việc tịch thu lương thực mà lực lượng Hird (quân xung kích của phát xít Na Uy) đã thu giữ trong đêm. Họ bị giam rồi được thả. Sau đó, họ lập ra tại vùng Østlandet hạt nhân của một tổ chức kháng chiến bí mật trong ngành cảnh sát. Từ mùa thu 1942, các lãnh đạo kháng chiến yêu cầu cảnh sát tẩy chay các cuộc mít tinh tuyên truyền của đảng phát xít và không nộp đơn xin thăng chức khi có chỗ trống.

Vụ lao động cưỡng bức (1943). Năm 1943, phát xít Na Uy tổ chức chương trình bắt công dân đi lao động, gọi là “Nỗ lực Lao động Quốc gia”. Tháng 6, lực lượng kháng chiến bí mật ra chỉ thị cho mọi cảnh sát: không làm bất cứ việc gì hỗ trợ chương trình lao động cưỡng bức này. Hai tháng sau, Gunnar Eilifsen, phó cảnh sát trưởng Oslo, từ chối lệnh đưa hai cô gái trẻ đi lao động cưỡng bức. Ông bị đưa ra tòa án quân sự và bị hành quyết ngày 16 tháng 8 năm 1943.

Cùng ngày hôm đó, toàn bộ cảnh sát Oslo, khoảng sáu đến bảy trăm người, bị gọi đến họp với Cảnh sát trưởng Jonas Lie, một đảng viên phát xít. Lie thông báo về vụ hành quyết Eilifsen và yêu cầu mọi người ký cam kết sẽ tuân lệnh. Các đảng viên phát xít ký ngay. Một số người khác chỉ lặng lẽ đi qua chiếc bàn đặt giấy cam kết mà không ký. Dù bị thuyết phục và bị dọa sẽ bị xử bắn vào hôm sau, vẫn có mười bốn cảnh sát không chịu ký. Họ bị đưa đi bằng xe của Đức, nhưng dường như không bị hành quyết.

Tổ chức cảnh sát bí mật (mùa thu 1943). Lực lượng cảnh sát lập ra một tổ chức lãnh đạo bí mật, phối hợp với Milorg (tổ chức kháng chiến vũ trang) và Sivorg (tổ chức kháng chiến dân sự, bất bạo động). Cùng với Milorg, họ lập hệ thống báo tin trước về các cuộc truy quét và bắt giữ nhắm vào người và tổ chức kháng chiến trong nước. Họ cũng hoạt động để phát hiện và “vô hiệu hóa” những điệp viên làm việc cho Đức Quốc xã.

148. Binh biến

Khi phong trào bất hợp tác đã phát triển đến giai đoạn cao, binh sĩ hoặc cảnh sát của phía đối thủ có thể nổi dậy chống lại cấp trên, thẳng thừng từ chối thi hành lệnh đàn áp phong trào. Có những lúc binh biến còn là cách đấu tranh chính, thậm chí là cách chủ yếu, khi chính quân đội nổi dậy.

Trong các cuộc cách mạng chủ yếu dùng bạo lực, sau khi binh biến, binh sĩ thường quay sang chiến đấu cùng phe cách mạng. Còn trong một cuộc đấu tranh chủ yếu bất bạo động, binh biến có thể chỉ là việc từ chối làm những nhiệm vụ quen thuộc: không ép dân phải phục tùng chính quyền, hoặc không đi đánh kẻ thù nước ngoài. Sự từ chối này làm cho chính quyền tê liệt, vì:

  • sự chống đối và bất hợp tác lan rộng hơn;
  • lực lượng thực thi của chính quyền bị vô hiệu hóa;
  • sức mạnh quân sự thông thường của chính quyền bị phá hủy.

Cách mạng Nga năm 1905

Trong cuộc cách mạng Nga năm 1905, binh biến khá thường xảy ra. Cựu lãnh đạo Ochrana (mật vụ của Sa hoàng) kể về một vụ binh biến sớm ở St. Petersburg ngày 24 tháng 2 năm 1905: “Khi chính quyền thử thay cảnh sát bằng các đội kỵ binh Cossack, tình hình hóa ra rất nghiêm trọng: người Cossack, những người từng là nỗi khiếp sợ của đám đông nổi loạn, nay lại kết thân với đám đông và không có dấu hiệu nào cho thấy họ sẽ mạnh tay với đám đông.”

Từ tháng 11 năm 1905 đến giữa năm 1906, binh sĩ từ mặt trận Nhật Bản trở về bằng đường sắt xuyên Siberia thường xuyên vi phạm kỷ luật:

“Binh sĩ không nghe lệnh sĩ quan và kết thân với những người cấp tiến thuộc dân thường ở những nơi chính quyền đang suy sụp, nhất là Harbin, Chita, Krasnoyarsk và Irkutsk. Mức độ coi thường kỷ luật của họ trải dài từ những cử chỉ bất tuân đơn giản cho đến những hành động khá nghiêm trọng. Chẳng hạn ở Chita, để trả đũa việc một viên tướng xúc phạm mấy công nhân đường sắt, họ đã tháo toa xe của ông ta ra và bỏ ông ta lại đó.“

Theo J.L.H. Keep, cuộc binh biến ở Irkutsk (Siberia) là ví dụ tiêu biểu nhất cho kiểu binh biến bất bạo động. Vào thời điểm đó, hầu như toàn bộ dân cư địa phương đều đối lập với chính quyền trung ương. Chính quyền địa phương thậm chí cho phép các đảng viên Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội Nga, một tổ chức cách mạng, phát biểu công khai trước các đám đông binh sĩ. Sau đó, binh sĩ từ chối thi hành nhiệm vụ quân sự, nhưng không dùng bạo lực chống lại bất kỳ ai.

Cách mạng tháng Hai năm 1917

Trong Cách mạng tháng Hai năm 1917, việc binh lính nổi loạn đóng vai trò rất quan trọng. Ví dụ, trung đoàn Volynsky nổi dậy vào ngày 27 tháng 2. Một ngày trước đó, theo lệnh cấp trên, họ đã nổ súng vào những người biểu tình ôn hòa ở quảng trường Znamensky, Petrograd. Sáng hôm sau, một kẻ không rõ danh tính đã bắn chết sĩ quan của họ. Theo tài liệu ghi lại, binh sĩ Volynsky bắn súng lên trời và tuyên bố đứng về phía nhân dân. Nhưng chẳng bao lâu họ mất kỷ luật, hòa vào đám biểu tình và trở thành một phần của đám đông hỗn loạn.

Cuộc nổi loạn nhanh chóng lan sang các đơn vị khác. Khi các toán tuần tra được lệnh giải tán về doanh trại ăn tối, họ đã nhập vào đám đông ngay trên đường đi. Nhìn chung, binh sĩ không ở lại đơn vị và cũng không dùng sức mạnh quân sự để chống lại chế độ. Theo tài liệu, họ thích lẩn vào đám đông hơn là đứng ở vị trí dễ bị nhận ra trong hàng ngũ. Họ bán súng cho ai trả giá cao nhất, cài dải ruy băng đỏ lên áo khoác, rồi tham gia biểu tình. Họ đập phá đồn cảnh sát, mở cửa nhà tù, đốt tòa án, hoặc làm những hoạt động cách mạng “không đổ máu” khác.

Bộ Tổng tư lệnh không còn biết đơn vị nào có thể tin cậy. Ngày 27 tháng 2, Bộ trưởng Chiến tranh gửi điện cho Sa hoàng, báo rằng binh biến đang lan rộng, có nơi bốc cháy và tướng Khabalov, tư lệnh Quân khu Petrograd, đã hoàn toàn mất kiểm soát. Ông khẩn cấp xin một lực lượng lớn gồm những binh sĩ thực sự đáng tin cậy. Tuy vậy, đôi khi binh sĩ nổi loạn cũng quay sang tấn công bằng bạo lực các đơn vị còn trung thành, như vụ phục kích ở Luga trong thời gian này.

Binh biến trong quân đội Pháp năm 1917

Tháng 5 và tháng 6 năm 1917, quân đội Pháp chứng kiến những cuộc binh biến quy mô lớn. Đây là biểu hiện của sự phản kháng chung trước cuộc chiến, trước những thương vong khổng lồ và thế bế tắc trên chiến trường. Theo con số chính thức, các vụ binh biến (khi đó gọi là “vô kỷ luật tập thể”) xảy ra trong gần một nửa lực lượng chiến đấu của Pháp. Nhà sử học Richard Watt nhận xét rằng các cuộc nổi loạn này diễn ra tự phát từ đầu đến cuối: không có mục tiêu cụ thể, không có người lãnh đạo có tổ chức, và cũng không có anh hùng hay kẻ xấu nào.

Lúc đầu, các vụ binh biến chỉ nhỏ lẻ và đều bị trừng phạt. Nhưng khi ngày càng nhiều lính tham gia, họ nhận ra mình đông đến mức không thể trừng phạt hết được. Cuộc binh biến thực sự đầu tiên xảy ra ở Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Bộ binh 18. Chưa đầy hai tuần trước đó, khoảng 400 trong số 600 người của tiểu đoàn đã chết hoặc bị thương. Vậy mà ngày 29 tháng 4, họ lại bị lệnh quay ra chiến đấu. Ngay cả khoảng 200 người còn sống và không bị thương cũng đang bị sốc nặng vì bom đạn. Cuối cùng, tiểu đoàn bị thuyết phục quay lại mặt trận. Sau đó, năm người bị kết án tử hình, dù chẳng ai bận tâm xem họ có thật sự là người cầm đầu hay không. Binh biến vẫn tiếp tục lan rộng. Theo mô tả, chỉ trong một đêm, kỷ luật gần như sụp đổ. Các sĩ quan bỗng thấy mình không còn chỉ huy được binh lính nữa, mà chỉ chạy loanh quanh bên ngoài một đám đông khổng lồ và hỗn loạn.

Watt gọi các vụ binh biến này là một kiểu “đình công nghề nghiệp”. Binh sĩ đình công vì đột nhiên mất hết niềm tin vào các tướng lĩnh và chiến lược của họ, và không muốn giao mạng sống cho một bộ chỉ huy mà họ thấy là thờ ơ trước nỗi đau của mình.

Nguyên nhân quan trọng của các vụ binh biến là thương vong khủng khiếp và cuộc tấn công thất bại do Tổng tư lệnh Robert Nivelle phát động. Chính phủ Pháp hoảng sợ trước cả binh biến lẫn thất bại này, nên ngày 15 tháng 5 năm 1917 đã cách chức Nivelle và đưa tướng Henri Pétain lên thay.

Ấn Độ năm 1930

Ngày 23 tháng 4 năm 1930, trong chiến dịch 1930-31 ở Ấn Độ, một trung đoàn Garhwali từ chối bắn vào những người biểu tình ôn hòa ở Peshawar. Vì hành động này, các thành viên của trung đoàn bị đưa ra truy tố.


Đăng ngày

trong

Thẻ: