Phong Trào Duy Tân

198 phương thức bất bạo động. Chương 1, Mục 8: Tưởng niệm người đã khuất

Nguồn: Gene Sharp. The Politics of Nonviolent Action.

Phong trào Duy Tân dịch.

Chương 1: Các phương pháp phản kháng và thuyết phục bất bạo động

Mục 1.8: Tưởng niệm người đã khuất 

Một số phương pháp phản kháng và thuyết phục bất bạo động được thực hiện thông qua việc tưởng niệm và bày tỏ lòng kính trọng đối với những người đã khuất. Người được tưởng niệm có thể là những anh hùng đã hy sinh từ nhiều thập kỷ hoặc nhiều thế kỷ trước, nhưng cũng có thể là những người vừa mới hy sinh trong quá trình đấu tranh. Một trong những phương pháp như vậy là “đám tang mô phỏng”, được sử dụng nhằm gợi lên ý niệm rằng một nguyên tắc hoặc một trạng thái xã hội đáng trân trọng đã bị hủy hoại hoặc đang đứng trước nguy cơ bị hủy hoại; hoặc nhằm nhấn mạnh rằng một số chính sách nhất định đang đe dọa tính mạng con người.

43. Tang lễ chính trị

Những biểu tượng được sử dụng để tưởng niệm cái chết của một cá nhân thường được dùng để bày tỏ sự phản đối chính trị và niềm tiếc thương trước những sự kiện hoặc chính sách cụ thể. 

Việc để tang công khai đã giữ một vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh của các thuộc địa Mỹ chống lại Đạo luật Tem thuế năm 1765. Chẳng hạn, khi các con tem thuế dành cho Pennsylvania, New Jersey và Maryland được vận chuyển bằng tàu đến Philadelphia vào ngày 5 tháng 10, tất cả các tàu trong cảng đều treo cờ rủ, trong khi chuông nhà thờ trên khắp thành phố ngân vang suốt cả ngày. Khi đạo luật chính thức có hiệu lực vào ngày 1 tháng 11, ngày này nhìn chung được các thuộc địa coi là một ngày để tang, với tiếng chuông tiếp tục ngân vang. Tại Boston, chẳng hạn, tổ chức “Loyal Nine”, hay còn gọi là “Những người con của Tự do”, đã bảo đảm rằng các cuộc biểu tình trong ngày hôm đó diễn ra trong trật tự tuyệt đối.

Trong cuộc kháng chiến của những người Tin Lành Hungary chống lại nỗ lực của Áo nhằm xóa bỏ quyền tự trị của các giáo hội Tin Lành tại Hungary, nhiều mục sư và giám mục đã bị bắt giữ vào tháng 2 và tháng 3 năm 1860, trong khi các cuộc họp của giáo hội liên tục bị giải tán. Các sinh viên đã đến những thị trấn nơi các giáo sĩ này bị đưa ra xét xử và, trong trang phục màu đen, tiến hành những cuộc biểu tình im lặng.

Đôi khi, một hoạt động tưởng niệm ban đầu chỉ nhằm tưởng nhớ người đã khuất nhưng dần dần lại trở thành một hình thức phản kháng chính trị. Một nhân chứng tại Warsaw đã kể lại sự việc xảy ra vào tháng 11 năm 1939:

Tại góc đường Marshall và Jerusalem, ở trung tâm Warsaw và gần Ga Trung tâm, mặt đường lát đá đã bị đào lên để tạo thành một ngôi mộ tập thể lớn dành cho những người lính vô danh. Ngôi mộ được phủ đầy hoa và bao quanh bởi những ngọn nến đang cháy. Một đám đông người thương tiếc quỳ xuống bên cạnh và cầu nguyện. Sau này tôi được biết rằng buổi canh thức không ngừng ấy đã được duy trì kể từ khi các thi hài được chôn cất ba tháng trước.

Trong những tuần tiếp theo, từ lúc bình minh cho đến giờ giới nghiêm, tôi vẫn luôn thấy những người thương tiếc bên cạnh ngôi mộ. Dần dần, những nghi lễ diễn ra ở đó không chỉ còn là sự tưởng niệm dành cho người đã khuất; chúng còn trở thành những biểu tượng của sự phản kháng chính trị. Vào tháng 12, Thống đốc vùng của Đức Quốc xã tại Warsaw, Moser, nhận ra ý nghĩa của ngôi mộ và ra lệnh khai quật các thi thể để đưa về chôn cất tại nghĩa trang. Thế nhưng, ngay cả sau khi việc đó được thực hiện, những người thương tiếc vẫn tiếp tục đến quỳ cầu nguyện tại góc phố ấy. Những ngọn nến vẫn được thắp sáng, như thể nơi đó đã trở thành một vùng đất linh thiêng bởi một sự hiện diện mà những chiếc xẻng của binh lính Đức Quốc xã không thể nào xóa bỏ.

Tại Argentina, bắt đầu từ năm 1943, những người phản đối chế độ độc tài của Perón đã thể hiện sự phản kháng bằng cách mang nhiều biểu tượng tang lễ màu đen, như cà vạt, băng tay, ruy băng cài trên ve áo hoặc áo khoác, mạng che mặt, khăn trùm đầu, hay những chiếc khăn tay nhỏ màu đen ghim trên váy của phụ nữ. Số người tham gia nhanh chóng tăng lên, và điều này được cho là đã mang lại sự khích lệ đáng kể cho các lực lượng chống chính quyền.

Sau vụ sát hại những người châu Phi tại Sharpeville, Nam Phi, khi những người biểu tình thách thức luật giấy thông hành, Albert Luthuli đã kêu gọi lấy ngày 28 tháng 3 năm 1960 làm “ngày quốc tang”.

Vào ngày này, tôi kêu gọi mọi người ở nhà và dành ngày ấy để cầu nguyện. Sự hưởng ứng rất tích cực và tại một số nơi còn vượt ngoài mong đợi. Hơn nữa, đó là sự hưởng ứng đa sắc tộc và vượt xa phạm vi những đồng minh quen thuộc của chúng tôi.

Trong nhiều ngày sau đó, Luthuli đeo cà vạt đen và băng vải đen như những biểu tượng của tang lễ.

Trong thời gian đầu của cuộc đấu tranh của Phật giáo chống lại chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963, sau khi tám Phật tử biểu tình bị sát hại tại Huế, cố đô của An Nam, phần lớn người dân theo Phật giáo đã mặc đồ trắng để tang. Trong hoàn cảnh đó, việc để tang dường như vừa nhằm tưởng nhớ những người đã khuất, vừa thể hiện sự phản đối đối với chính quyền, vốn đang thực hiện chính sách phân biệt đối xử với Phật tử.

44. Tang lễ giả định

Phản kháng chính trị cũng có thể được thể hiện dưới hình thức tổ chức một “đám tang” cho một nguyên tắc nào đó mà những người biểu tình trân trọng và cho rằng phe đối lập đã vi phạm. Hoặc nó có thể diễn ra dưới hình thức một đoàn đưa tang mô phỏng, trong đó những người tham gia tìm cách thể hiện mức độ nghiêm trọng của sự phản đối thông qua thái độ tiết chế, trang nghiêm, đồng thời sử dụng một số vật dụng và nghi thức đặc trưng của một đám tang thực sự, chẳng hạn như mặc hoặc sử dụng màu đen và mang theo quan tài.

Một cuộc phản đối như vậy đã diễn ra tại Newport, Rhode Island, trong bối cảnh căng thẳng gia tăng vào thời điểm Đạo luật Tem thuế chính thức có hiệu lực vào ngày 1 tháng 11 năm 1765. Edmund S. Morgan và Helen M. Morgan mô tả sự kiện này dựa trên một bài báo đương thời:

Ngày 1 tháng 11, nhằm ngăn ngừa mọi khả năng xảy ra bạo loạn, Những người con của Tự do đã tìm cách chuyển hướng sự phẫn nộ của quần chúng thành một cuộc biểu tình có trật tự bằng cách tổ chức “một đám tang trọng thể cho Tự do”. Một đoàn người đưa tang đi qua các đường phố đến nghĩa trang, theo sau một cỗ quan tài mang dòng chữ “Tự do Già”.

Khi đến nơi an táng, theo mô tả của tờ Mercury:

“Một Người con của TỰ DO bước ra khỏi bóng tối của Tuyệt vọng và nói: “Ôi TỰ DO! Người mà ta yêu quý nhất! — TỰ DO VINH QUANG! Được mọi người Anh chân chính ngưỡng mộ và tôn kính! — TỰ DO đã chết rồi sao? Không thể nào!”

Bỗng có tiếng rên rỉ phát ra từ trong quan tài. Nhìn kỹ hơn, người ta nhận ra đó chỉ là một cơn mê, bởi TỰ DO Già vẫn chưa chết. Nữ thần Britannia đã sai một Thiên thần Hộ mệnh cứu TỰ DO Già khỏi tay Tử thần lạnh giá và đưa Người đến nơi Mặt trời đang mọc, để Người được an toàn trước những cuộc tấn công của Bạo quyền và Áp bức.”

Sau màn chuyển cảnh đầy thú vị này, buổi chiều được dành cho việc ăn mừng, với tiếng chuông ngân vang và tòa án được trang hoàng bằng cờ.

Những đám tang mô phỏng tương tự cũng được tổ chức trong cùng dịp đó tại Portsmouth, New Hampshire; Baltimore, Maryland; và Wilmington, North Carolina.

Tháng 11 năm 1961, vào ngày sau khi Liên Xô cho nổ một quả bom siêu lớn, những người biểu tình phản đối các cuộc thử nghiệm hạt nhân tại Oslo, Na Uy, đã đi trong một đoàn đưa tang mô phỏng, mang theo những ngọn đuốc đang cháy và cờ đen, tiến đến Đại sứ quán Liên Xô.

Tháng 3 năm 1965, sau một buổi lễ tôn giáo tại một nhà thờ nhỏ ở Lowndesboro, Alabama — gần nơi bà Viola Liuzzo bị sát hại — những người biểu tình đấu tranh cho quyền dân sự đã dùng xe hơi chở mười cỗ quan tài trong một đoàn đưa tang đến thủ phủ bang Montgomery. Những cỗ quan tài tượng trưng cho mười người đã bị sát hại cho đến thời điểm đó vì tham gia cuộc đấu tranh giành quyền dân sự tại Alabama. Các cỗ quan tài được đưa từ xe hơi xuống một địa điểm gần tòa nhà nghị viện bang, nơi mọi người tiến hành cầu nguyện; sau đó, một phụ nữ mặc đồ đen mang hoa đến đặt tại đó.

45. Tang lễ biểu dương

Trong những giai đoạn bất ổn chính trị, các lễ tưởng niệm và tang lễ — đặc biệt là những đoàn đưa tang dành cho những người bị phe đối lập sát hại hoặc những người qua đời vì những nguyên nhân khác trong quá trình đấu tranh — có thể trở thành một hình thức bày tỏ sự phản kháng và lên án về mặt đạo đức. Điều này có thể xảy ra bất kể người bị sát hại là một nhà lãnh đạo đối lập nổi tiếng hay một người biểu tình vô danh; bất kể kẻ sát hại là một cá nhân, một tổ chức bí mật, hay lực lượng cảnh sát hoặc quân đội của chính quyền. Trong một số ít trường hợp, người được tưởng niệm là người đã tự sát để phản đối. (Tuy nhiên, trong cuốn sách này, hành vi tự sát không được xem là một phương pháp hành động bất bạo động.) Phương pháp này thường được thực hiện dưới hình thức một đoàn người đưa tang, trang nghiêm đi bộ qua các đường phố.

Có nhiều ví dụ về hình thức này. Trong cuộc kháng cự của các thuộc địa Mỹ chống lại Đạo luật Townshend, ngày 22 tháng 2 năm 1770, một nhóm học sinh gây ồn ào tại Boston đã bị một “kẻ chỉ điểm khét tiếng” tên là Richardson quở trách vì dựng một hình nộm thô sơ trước cửa nhà của một thương nhân nhập khẩu vi phạm chính sách tẩy chay. Richardson không thể phá hủy hình nộm, và một cuộc ném rác qua lại giữa lũ trẻ với Richardson, vợ ông ta và một người đàn ông khác đã kết thúc bằng việc Richardson nổ súng nhiều phát vào đám đông. Ông ta làm bị thương một cậu bé và bắn chết Christopher Snider, mười một tuổi. Theo Schlesinger, tang lễ của Christopher Snider đã trở thành dịp diễn ra một cuộc biểu tình lớn, và cậu bé được tôn vinh là “người hùng nhỏ tuổi và vị tử đạo đầu tiên của chính nghĩa cao cả.”

Vào mùa thu năm 1905, Hoàng tử Trubetskoi đột ngột qua đời. Ông là một người theo chủ nghĩa tự do ôn hòa và là người đứng đầu phái đoàn đại diện cho Đại hội Zemstvo lần thứ ba vào tháng 6 cùng năm, nhằm thúc giục Sa hoàng thành lập Quốc hội được hứa hẹn, tức Duma. Cái chết của ông đã được những người cách mạng và các lực lượng chống chính quyền tận dụng trong cuộc đấu tranh chống chế độ. Tại St. Petersburg, Đảng Dân chủ Xã hội đã tổ chức khoảng sáu trăm sinh viên và công nhân, cùng với nhiều phái đoàn khác, đi theo linh cữu khi thi hài được đưa đến ga xe lửa để chuyển về Moscow an táng. Tại Moscow, tang lễ “đã biến thành một cuộc biểu tình chính trị lớn”, trong đó nhiều người phản đối chế độ phát biểu trước đám đông và tổ chức những buổi lễ tưởng niệm đặc biệt để bày tỏ những quan điểm cấp tiến hơn nhiều so với lập trường của vị hoàng tử quá cố. Sau này trong cuộc cách mạng, Harcave cho biết, mỗi khi những người biểu tình chống chính phủ “bị sát hại trong các cuộc đụng độ, những tang lễ trọng thể sẽ được tổ chức nhằm tôn vinh họ như những người tử đạo.” Đám tang ở Moscow của Nicholas Bauman, một người Bolshevik, vào ngày 20 tháng 10 năm 1905 là một trong những sự kiện ấn tượng nhất. “Hơn một trăm nghìn công nhân, sinh viên, trí thức và cả binh lính mặc quân phục đã đi theo đoàn đưa tang suốt gần tám giờ qua các đường phố Moscow trong một cuộc biểu tình chống chính phủ hết sức rõ ràng.”

Cuối tháng 9 năm 1917, Thomas Ashe, một nhà dân tộc chủ nghĩa Ireland bị giam giữ, đã qua đời sau khi bị ép ăn trong suốt một tuần giữa lúc ông cùng nhiều tù nhân khác đang tuyệt thực. Edgar Holt mô tả tang lễ của ông như sau:

Tang lễ của Thomas Ashe vào ngày 30 tháng 9 năm 1917 là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy tinh thần của cuộc Khởi nghĩa Phục sinh đang hồi sinh…

Tổng cộng có khoảng từ hai mươi nghìn đến ba mươi nghìn người đi theo xe tang cùng với nhiều ban nhạc; phần lớn đám đông dõi theo trong im lặng…

Cảnh sát Dublin không có hành động nào, mặc dù trước mắt họ xuất hiện những bộ đồng phục bị cấm của Quân đội Công dân và Lực lượng Tình nguyện Ireland, những tổ chức mà Ashe từng là thành viên…

Chính quyền Anh cũng không có hành động nào nhằm ngăn cản tang lễ và việc chôn cất Thomas Ashe. Tuy nhiên, họ đã bị chấn động trước cái chết của ông và ngay lập tức thực hiện một số thay đổi trong cách đối xử với các tù nhân của Đảng Sinn Fein, một đảng dân tộc chủ nghĩa.

Trong cuộc đấu tranh Ruhrkampf năm 1923, đoàn đưa tang mười ba công nhân của nhà máy Krupp bị quân đội chiếm đóng bắn chết vào ngày thứ Bảy trước lễ Phục sinh đã trở thành một sự kiện thể hiện nỗi đau thương của toàn dân tộc.

Tin tức về vụ sát hại Rudi Arndt, một lãnh đạo của phong trào kháng chiến Do Thái trong trại tập trung Buchenwald, do S.D. (Cơ quan An ninh của Đức Quốc xã) thực hiện vào mùa thu năm 1940, mãi đến đầu năm 1941 mới được truyền đến các nhóm hoạt động bí mật ở Berlin. Sau đó, Herbert Baum đã tổ chức một buổi tưởng niệm ngay tại nhà riêng để tưởng nhớ Rudi Arndt, rồi tiếp tục tổ chức một lễ tưởng niệm tại nghĩa trang Do Thái ở Weissensee. Giáo sư Ber Mark nhận xét rằng cả hai sự kiện này đều “đạt hiệu quả hết sức to lớn”, vì chúng vừa nâng cao uy tín của nhóm kháng chiến do Baum lãnh đạo, vừa “khơi dậy mạnh mẽ hơn khát vọng đấu tranh”. Trong khi đó, một số lãnh đạo Do Thái khác lại cho rằng “những cuộc tụ họp đông người như vậy quá nguy hiểm”; thông thường, một nhóm hoạt động bí mật chỉ giới hạn ở bảy người.

Năm 1960, những người biểu tình Zengakuren phản đối Hiệp ước An ninh Hoa Kỳ – Nhật Bản đã tổ chức các lễ dâng hương để tưởng nhớ những người tử vì đạo của phong trào đấu tranh. Sau vụ ám sát Tiến sĩ Gregory Lambrakis vào tháng 5 năm 1963 — một thành viên độc lập của Quốc hội Hy Lạp và là người phản đối mạnh mẽ vũ khí hạt nhân — khoảng một phần tư triệu người đã tham gia đoàn đưa tang trong trật tự và trang nghiêm để bày tỏ lòng kính trọng đối với Lambrakis, đồng thời thể hiện sự đoàn kết với những lý tưởng chính trị mà ông theo đuổi. (Vụ ám sát này sau đó trở thành cơ sở cho cuốn tiểu thuyết và bộ phim Z.)

Sau khi cảnh sát nổ súng vào đám đông biểu tình ở Đông Berlin ngày 17 tháng 6 năm 1963, thi thể của người thanh niên đầu tiên thiệt mạng được đặt trên cáng và đưa qua phố Petersstrasse, với một vòng hoa phủ trên người. Khi đoàn đưa tang đi qua, những người đứng hai bên đường đã ném hoa để tiễn biệt.

Ngày 26 tháng 8 năm 1968, tại nhà tang lễ của lò hỏa táng Strasnice ở Praha diễn ra tang lễ của một thanh niên hai mươi bảy tuổi — một người dân vô tội bị một binh sĩ Liên Xô bắn chết. Một nhóm thanh niên vừa khóc vừa bước vào nhà tang lễ, mang theo quốc kỳ Tiệp Khắc và một biểu ngữ ghi dòng chữ: “CHÚNG TÔI ĐẾN ĐỂ CHÔN CẤT NẠN NHÂN CỦA CUỘC ‘GIẢI PHÓNG’ CỦA CÁC NGƯỜI.” Một số người trong nhóm đã phát biểu, thề rằng họ sẽ không bao giờ quên những ngày ấy và những nạn nhân. Sau đó, theo một tờ báo ở Praha, “tiếng khóc xé lòng của người mẹ hòa lẫn với giai điệu của quốc ca: ‘Đừng rời bỏ mẹ, con trai của mẹ…’”

Ít nhất nửa triệu người đã tham dự tang lễ của Jan Palach ở Praha vào ngày 25 tháng 1 năm 1969 để tưởng nhớ chàng sinh viên trẻ đã tự thiêu nhằm thể hiện lòng tận tụy với tự do của Tiệp Khắc. Vào buổi trưa ngày trước tang lễ, toàn bộ Praha đã ngừng mọi hoạt động trong năm phút. Hàng nghìn người, nhiều người khóc và mang theo hoa, lần lượt đi qua linh cữu được đặt tại Đại học Charles, dưới chân tượng Jan Hus. Hus, một nhà cải cách Tin Lành, đã bị thiêu sống vì tội dị giáo vào năm 1415.

Quân đội Liên Xô được giữ khuất tầm nhìn trong suốt thời gian diễn ra tang lễ, còn quân đội Tiệp Khắc — vốn được điều động để duy trì trật tự — thì trở nên không cần thiết. Chính phủ không muốn tang lễ biến thành một hành động bất tuân dân sự, qua đó tạo cớ cho Liên Xô đưa xe tăng trở lại Praha. Buổi lễ bắt đầu tại Đại học Charles, sau đó đoàn đưa tang chậm rãi di chuyển qua các con phố của khu Phố Cổ đến Quảng trường Jan Palach, nơi quốc ca được cử hành. Đám đông đứng dưới cơn mưa phùn lạnh giá suốt nhiều giờ. Trên các cửa sổ, quốc kỳ được treo cùng những dải băng tang màu đen. Đài phát thanh Praha cùng nhiều đài khác đã phát sóng phần tường thuật do các sinh viên thực hiện về tang lễ. Trên khắp cả nước, các lễ tưởng niệm được tổ chức tại các nhà máy, trường đại học và hội trường công cộng. Một phóng viên đã viết: “Đây là Tiệp Khắc mà các nhà lãnh đạo Liên Xô vừa lo sợ vừa muốn nghiền nát — một dân tộc điềm tĩnh, kỷ luật, mà ngay cả những cử chỉ nhỏ nhất cũng cất lên tiếng kêu mãnh liệt đòi tự do và phẩm giá.”

46. Tưởng niệm tại nơi an táng

Việc một số lượng lớn người cùng nhau, hoặc từng cá nhân và những nhóm nhỏ nối tiếp nhau, đến viếng nơi an táng của một người có thể trở thành một hình thức phản kháng chính trị và lên án về mặt đạo đức khi người đã khuất có liên hệ nào đó với chính nghĩa của cuộc đấu tranh đang diễn ra, hoặc khi người đó bị phe đối lập sát hại.

Chẳng hạn, tại St. Petersburg ngày 4 tháng 10 năm 1861, một đoàn sinh viên phản đối chế độ Sa hoàng đã mang vòng hoa đến đặt tại mộ của Granovsky, một nhà sử học và là bạn của Alexander Herzen, người sáng lập phong trào Dân túy Nga. 

Ngày 17 tháng 11 năm 1866, các sinh viên cách mạng thuộc Đại học Petersburg, tự gọi là “Phân bộ Khủng bố của Ý chí Nhân dân”, đã tìm cách kỷ niệm lần thứ năm ngày mất của Dobrolubov, người đồng chí của Chernyshevsky — nhà lãnh đạo vĩ đại của phong trào Dân túy Nga — bằng cách đặt một vòng hoa lên mộ ông, nhưng bị cảnh sát và lực lượng Cossack ngăn cản.

Trong thời kỳ Đức Quốc xã chiếm đóng Tiệp Khắc, “vào những ngày kỷ niệm sinh và tử của Thomas Garrigue Masaryk, hàng nghìn người thường đến mộ ông tại Lany, gần Praha, để đặt hoa,” Josef Korbel viết. “Họ cũng đến đài tưởng niệm Jan Hus ở trung tâm khu phố cổ Praha và làm điều tương tự.”

Tại Pháp, thi thể của những con tin bị Đức Quốc xã hành quyết được phân tán tại nhiều nghĩa trang khó tiếp cận, dường như nhằm ngăn chặn việc người dân kéo đến viếng mộ với quy mô lớn.

Ngày 4 tháng 12 năm 1956, một tháng sau cuộc tấn công thứ hai của quân đội Liên Xô vào Budapest, nhiều phụ nữ Hungary, trong đó có nhiều người trùm khăn voan đen, đã đi bộ đến mộ Người lính Vô danh của Hungary tại Quảng trường Anh hùng ở Budapest. Họ chất đầy hoa lên ngôi mộ để bày tỏ lòng kính trọng đối với những người vừa thiệt mạng. Những người phụ nữ hát quốc ca cũ và đọc bài thơ “Tiến lên, người Hungary!” của Sándor Petöfi, trong đó có những câu:

Tiến lên, người Hungary! Tổ quốc đang gọi chúng ta.
Đây là thời khắc — hoặc bây giờ, hoặc không bao giờ!
Chúng ta sẽ làm nô lệ? Hay chúng ta sẽ được tự do?
Đó là câu hỏi — câu trả lời của các bạn là gì?

Nhân danh Chúa vĩ đại, chúng ta thề, chúng ta thề,
Không bao giờ làm nô lệ nữa — không bao giờ!

(Petöfi, nhà thơ và người anh hùng của cuộc nổi dậy năm 1848, đã hy sinh trong một trận chiến với quân Nga năm 1849.)


Đăng ngày

trong

Thẻ: