Phong Trào Duy Tân

198 phương thức bất bạo động. Chương 1, Mục 3: Đại diện nhóm

Nguồn: Gene Sharp. The Politics of Nonviolent Action.

Phong trào Duy Tân dịch.

Chương 1: Các phương pháp phản kháng và thuyết phục bất bạo động

Mục 1.3: Đại diện nhóm 

Các nhóm có thể bày tỏ sự ủng hộ hoặc phản đối đối với một chính sách nào đó bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong năm phương pháp được xếp vào nhóm này, bốn phương pháp đòi hỏi sự hiện diện trực tiếp của những người đại diện, trong khi một phương pháp thì không.

13. Phái đoàn

Sự phản đối hoặc bất bình có thể được thể hiện bởi một nhóm gồm các cá nhân tự nguyện hoặc đại diện của một hay nhiều tổ chức đến gặp một quan chức (hoặc đại diện của quan chức đó) chịu trách nhiệm trực tiếp về vấn đề đang bị khiếu nại. Trong một số trường hợp, các phái đoàn đại diện cũng có thể đề nghị xem xét hoặc thông qua một chính sách hoặc biện pháp mới.

Tại một huyện gần kinh đô của triều đình Trung Hoa vào khoảng năm 1890, người đóng thuế đã phản ứng trước các hành vi lạm quyền liên tiếp của quan thu thuế, người tùy tiện điều chỉnh tỷ giá hối đoái giữa tiền đồng và bạc theo hướng có lợi cho mình, bằng cách cử một phái đoàn đến kinh đô, mang theo các văn bản do một ủy ban địa phương chuẩn bị. Phái đoàn đầu tiên thất bại; các thành viên bị đánh năm mươi gậy và bị phạt tiền. Tuy nhiên, phái đoàn thứ hai đã thành công: viên quan thu thuế bị cách chức và bị cấm đảm nhiệm bất kỳ chức vụ nào trong chính quyền về sau.

Sau khi Sa hoàng Nicholas II đơn phương ban hành đạo luật sáp nhập quân đội Phần Lan vào Quân đội Đế quốc Nga, rồi trong bản tuyên ngôn ngày 15 tháng 2 năm 1899 tuyên bố “quyền” ban hành luật đối với Phần Lan bất chấp quan điểm hay quyết định của Quốc hội Phần Lan, một phái đoàn gồm 500 người đã mang tới cho Sa hoàng một bản kiến nghị phản đối với 523.000 chữ ký — tương đương gần một nửa dân số trưởng thành của Phần Lan. Tuy nhiên, Sa hoàng đã từ chối tiếp phái đoàn.

Ngày 1 tháng 11 năm 1958, một tổ chức ở Luân Đôn mang tên Ủy ban Phụ huynh Geneva đã cử một phái đoàn phụ nữ đến Geneva để gặp các đại biểu tham dự hội nghị cấm thử hạt nhân sắp diễn ra nhằm thúc đẩy việc chấm dứt vĩnh viễn thử nghiệm hạt nhân. 

Sau cuộc biểu tình ngày 18 tháng 12 năm 1963, trong đó khoảng ba đến bốn trăm sinh viên châu Phi đã tuần hành đến Điện Kremlin, một phái đoàn sinh viên Ghana đã đến Bộ Giáo dục để phản đối tình trạng phân biệt chủng tộc ở Moscow. Phái đoàn đã được Bộ trưởng Giáo dục và Bộ trưởng Y tế tiếp đón.

Vào ngày 24 tháng 8 năm 1968, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Thành phố Praha của Đảng Cộng sản đã cử một phái đoàn đến Đại sứ quán Liên Xô để yêu cầu thả đồng chí Bohumil Simon, thành viên của Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương mới được bầu và là Bí thư thứ nhất Thành ủy Praha. Ban đầu, tùy viên Liên Xô phủ nhận hoàn toàn việc biết về Simon. Tuy nhiên, sau đó ông ta đã đảm bảo rằng Simon vẫn an toàn và mọi nỗ lực đang được tiến hành nhằm bảo đảm việc phóng thích.

14. Trao tặng các “giải thưởng” châm biếm

Những “giải thưởng” mang tính châm biếm có thể được trao cho đối tượng bị phản đối nhằm công khai những bất bình, đồng thời có thể tạo sức ép để người nhận “vinh dự” đó sửa chữa vấn đề đang bị phản đối.

Chẳng hạn, tại Massachusetts vào tháng 11 năm 1969, trong khi các phiên điều trần về tình trạng ô nhiễm công nghiệp đang diễn ra, chiến dịch Hành động Sinh thái Khu vực Boston (Boston Area Ecology Action) đã trao cho Công ty Boston Edison “Giải thưởng Kẻ gây ô nhiễm của tháng” (“Polluter of the Month”). Trước đó, công ty điện lực này đã nhiều lần bị khiếu nại vì bị cáo buộc gây ô nhiễm không khí quá mức từ các nhà máy phát điện của mình.

15. Vận động hành lang theo nhóm

Vận động hành lang, theo nghĩa các cử tri trực tiếp gặp gỡ những đại diện của mình trong quốc hội nhằm tác động đến lá phiếu của họ trong cơ quan lập pháp, thông thường chỉ là một hình thức bày tỏ quan điểm bằng lời nói. Tuy nhiên, khi được tổ chức theo nhóm, vận động hành lang trở thành một hình thức hành động bất bạo động mang tính tập thể. Bởi bên cạnh việc thuyết phục các nhà lập pháp, việc tập hợp một số lượng đáng kể người dân cùng tham gia vận động hành lang tự nó đã trở thành một hình thức biểu tình.

Hình thức này có thể được thực hiện dưới dạng vận động hành lang theo nhóm nhỏ, trong đó nhiều cá nhân hoặc những nhóm có quy mô vừa phải lần lượt gặp gỡ các đại diện của mình, trong cùng một dịp, trong một khoảng thời gian nhất định hoặc qua nhiều lần gặp gỡ, nhằm tác động đến quan điểm của họ. Chẳng hạn, vào mùa xuân năm 1966, dưới sự bảo trợ của Ủy ban Bạn hữu về Pháp luật Quốc gia, các cá nhân và tổ chức đã đến gặp các nghị sĩ và thượng nghị sĩ tại Washington vào mỗi thứ Tư trong nhiều tuần liên tiếp để thảo luận về chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam.

Ngoài ra, vận động hành lang cũng có thể được tổ chức nhằm huy động một số lượng lớn người tham gia vào cùng một ngày cụ thể. Đây là hình thức vận động hành lang quy mô lớn. Ví dụ, ngày 8 tháng 3 năm 1965, Phong trào Chống Phân biệt Chủng tộc đã tổ chức một cuộc “vận động hành lang quy mô lớn” nhằm vào các thành viên Hạ viện tại Luân Đôn. Những người ủng hộ phong trào kêu gọi các nghị sĩ gây sức ép để chính phủ Anh có lập trường cứng rắn hơn đối với Nam Phi, thông qua các biện pháp như cấm vận vũ khí, áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế tập thể và những biện pháp khác.

16. Đứng biểu tình trước địa điểm mục tiêu (Picketing)

Picketing là một nỗ lực nhằm thuyết phục người khác thực hiện hoặc không thực hiện một hành động nhất định, hoặc là một phương thức phản đối thông qua sự hiện diện trực tiếp của người biểu tình tại một địa điểm có liên quan đáng kể đến vấn đề đang được phản đối. Người tham gia có thể đứng, ngồi hoặc đi đi lại lại tại địa điểm đó. Họ có thể mang theo biểu ngữ hoặc không, phát tờ rơi hoặc không. Họ cũng có thể trực tiếp nói chuyện với những người khác để thuyết phục họ, hoặc không.

Đặc biệt ở phương Tây, picketing thường gắn liền với các cuộc đình công, chủ yếu nhằm ngăn những người phá đình công vào làm thay công việc của những người đình công, hoặc ngăn những người đình công quay trở lại làm việc trước khi đạt được một thỏa thuận.

Lloyd G. Reynolds, một tác giả nghiên cứu về kinh tế lao động, giải thích:

“Công cụ mà các công đoàn phát triển để ngăn người lao động vào làm việc tại một cơ sở đang đình công là hàng rào người biểu tình (picket line). Những người đình công đi đi lại lại trước lối vào nhà máy, dùng biểu ngữ và lời nói để thông báo rằng đang có một cuộc đình công. Những công nhân bước vào nhà máy được những người biểu tình kêu gọi không vào làm việc. Khi một công nhân rời nhà máy sau khi hết ca, một người biểu tình có thể đi cùng anh ta một đoạn ngắn và thuyết phục anh ta không quay lại làm việc vào ngày hôm sau.”

“Nếu được tổ chức và chỉ đạo bởi những người có kinh nghiệm, picketing là một phương thức thuyết phục hòa bình khá hiệu quả, mặc dù nó cũng có thể thoái hóa thành xung đột thể chất… Để đạt hiệu quả đầy đủ, picketing tất yếu phải tạo ra một dạng áp lực đạo đức. Nó không chỉ đơn thuần là thuyết phục người có ý định phá đình công bằng lý lẽ, mà còn nhằm khiến người đó cảm thấy xấu hổ và có thể cả lo sợ.”

Trong những trường hợp như vậy, picketing cũng có thể được sử dụng để thông báo cho công chúng về sự tồn tại của cuộc đình công và những vấn đề đang tranh chấp, đồng thời tìm kiếm sự đồng cảm và ủng hộ của họ.

Picketing cũng có thể gắn với tẩy chay và bất hợp tác chính trị. Điều này đặc biệt rõ trong các cuộc đấu tranh bất bạo động giành độc lập tại Ấn Độ. Năm 1930, những người theo phong trào dân tộc đã tổ chức picketing trước các tòa án, kêu gọi những người có vụ kiện đưa tranh chấp đến các Panchayat (những hội đồng xét xử gồm năm người ở làng hoặc thị trấn, được Đại hội Quốc dân Ấn Độ khôi phục); tổ chức picketing trước các trường học và cao đẳng của chính phủ, kêu gọi sinh viên theo học các “cơ sở giáo dục quốc dân” độc lập với chính quyền Anh; đứng trước các cửa hàng bán những mặt hàng bị tẩy chay để ngăn người dân mua các sản phẩm đó; đứng trước các cơ quan chính phủ, kêu gọi người Ấn Độ đang làm việc cho chính quyền từ bỏ công việc để phục vụ sự nghiệp tự do của Ấn Độ; và đứng trước các cửa hàng bán thuốc phiện, rượu, thường là những phụ nữ trực tiếp kêu gọi khách hàng không mua.

Picketing cũng có thể được sử dụng để phản đối một chính sách, một hành động cụ thể hoặc chính sách nói chung của chính phủ, hoặc của tổ chức có văn phòng, trụ sở hay cơ sở đang bị picketing.

Ngày 10 tháng 1 năm 1917, lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, Nhà Trắng trở thành địa điểm bị picketing. Những người đấu tranh cho quyền bầu cử của phụ nữ đã tổ chức hoạt động này trong nhiều ngày liên tiếp nhằm chỉ ra sự thiếu cam kết của Tổng thống Wilson đối với quyền bầu cử của phụ nữ. Đến tháng 3 cùng năm, gần 1.000 phụ nữ đã tham gia picketing trước Nhà Trắng.

Khi Tổng thống Eisenhower đến Thính phòng Civic San Francisco vào tháng 10 năm 1958, ông được chào đón bởi một hàng người biểu tình gồm 200 thành viên của Ủy ban Bắc California về Xóa bỏ Vũ khí Hạt nhân. Tại một số thành phố miền Bắc Hoa Kỳ, theo Arthur Waskow, các bậc cha mẹ da trắng cũng đã tổ chức picketing trước các hội đồng giáo dục nhằm chấm dứt tình trạng phân biệt chủng tộc trên thực tế (de facto) trong hệ thống trường học.

Tất nhiên, picketing cũng có thể là hoạt động bất hợp pháp, cũng như phần lớn các phương thức khác được trình bày ở đây. Ngay cả tại các nền dân chủ nghị viện, quyền picketing cũng từng bị hạn chế — chẳng hạn, tại Anh trong gần 20 năm trước năm 1946. Đạo luật về Tranh chấp Thương mại và Công đoàn năm 1927, được ban hành sau cuộc Tổng đình công ở Anh năm 1926, có một điều khoản mà theo Julian Symons, “hạn chế quyền picketing bằng những quy định mơ hồ đến mức hầu như bất kỳ hình thức picketing nào cũng có thể trở thành căn cứ để truy tố.” Điều khoản này được bãi bỏ vào năm 1946.

Tại những quốc gia có mức độ tự do dân sự tương đối cao, picketing thường được sử dụng để công khai phản đối chính sách của chính phủ trong nước cũng như chính phủ nước ngoài. Đại sứ quán, lãnh sự quán, tòa án, cơ quan lập pháp, các bộ ngành và cơ quan chính phủ đều có thể trở thành địa điểm tập trung của những cuộc phản đối theo hình thức này.

Picketing có thể khác nhau đáng kể về nhiều phương diện: thời gian kéo dài, mức độ nhằm mục đích thuyết phục hay cản trở hoạt động, và số lượng người tham gia, từ một nhóm nhỏ mang tính biểu tượng cho đến những cuộc picketing quy mô lớn. Trong một hoàn cảnh cụ thể, picketing cũng có thể được kết hợp với các phương thức khác như đình công, tẩy chay và tuyệt thực.

17. Bầu cử mô phỏng

Phương pháp cuối cùng trong nhóm các hình thức đại diện tập thể được trình bày ở đây là bầu cử mô phỏng. Với mục đích phản đối, một nhóm đối lập có thể tổ chức những cuộc bầu cử không được chính quyền công nhận, hoặc tiến hành bỏ phiếu trực tiếp trong dân chúng về một vấn đề đang được quan tâm. Các điểm “bỏ phiếu” đặc biệt có thể được thiết lập, hoặc “lá phiếu” có thể được thu thập theo những cách khác, chẳng hạn như đến từng nhà.

Phương pháp này có thể được các nhóm thiểu số lớn hoặc đa số dân chúng sử dụng khi những hạn chế của hệ thống bầu cử theo hiến pháp ngăn cản phe đối lập tham gia, dù hoàn toàn hay dưới bất kỳ hình thức nào. Đồng thời, ngay cả những nhóm thiểu số có đầy đủ quyền tiếp cận hệ thống bầu cử chính thức cũng có thể sử dụng bầu cử mô phỏng như một phương tiện bổ sung để đưa những vấn đề họ quan tâm đến với công chúng.

Phương pháp này đã được áp dụng tại Mississippi vào năm 1963 và 1964. Các tổ chức đấu tranh cho dân quyền đã thiết lập một hệ thống “đăng ký tự do” dành cho mọi cư dân Mississippi muốn đăng ký, bất chấp những quy định pháp lý khi đó được sử dụng rộng rãi để tước quyền bầu cử của người da đen. (Vào thời điểm đó, chỉ khoảng 23.000 người, tương đương 7% số người da đen đủ tuổi, được đăng ký hợp pháp để tham gia các cuộc bầu cử chính thức.)

Khoảng 83.000 người đã “đăng ký tự do” và tham gia bỏ phiếu “tự do” để bầu thống đốc và phó thống đốc, với sự lựa chọn giữa các ứng cử viên chính thức của Đảng Dân chủ, Đảng Cộng hòa và các ứng cử viên do phong trào dân quyền đề cử.

James Farmer, cựu lãnh đạo Đại hội Bình đẳng Chủng tộc, nhận xét: “Không chỉ là một màn trình diễn kịch tính nhằm thu hút sự quan tâm của cả nước, cuộc bầu cử mô phỏng còn chứng tỏ là một công cụ giáo dục xuất sắc, giúp người da đen ở Mississippi hiểu được cách thức và quy trình tham gia bầu cử.”

Arthur Waskow cũng chỉ ra rằng nếu số phiếu này được dành cho ứng cử viên thiểu số trong một cuộc bầu cử thống đốc chính thức, kết quả hoàn toàn có thể đã thay đổi. Vì vậy, cuộc bầu cử mô phỏng đã “chứng minh sức mạnh đáng kể của chính họ [người da đen] nếu họ có thể thực sự tham gia vào hệ thống chính trị chính thức.”

Sau khi bị từ chối một vị trí trong danh sách ứng cử viên chính thức, Đảng Dân chủ Tự do, với thành phần chủ yếu là người da đen, đã tự tổ chức một cuộc “bầu cử” vào mùa thu năm 1964. Cuộc bầu cử này mời tất cả người dân Mississippi tham gia bỏ phiếu và đưa vào danh sách cả các ứng cử viên chính thức lẫn các ứng cử viên của Đảng Dân chủ Tự do.

Kết quả là các ứng cử viên của Đảng Dân chủ Tự do giành chiến thắng với gần 80.000 “cử tri” tham gia. Sau đó, ba nữ nghị sĩ “mới đắc cử” của đảng này đã không thành công trong nỗ lực phản đối tư cách của các nghị sĩ được bầu chính thức vào Hạ viện Hoa Kỳ. Họ lập luận rằng quyền bầu cử đã bị tước đoạt tại Mississippi, nơi 43% công dân đủ tuổi bầu cử bị ngăn cản không được tham gia.


Đăng ngày

trong

Thẻ: