Phong Trào Duy Tân

Đường về nô lệ. Chương 3: Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể

Tác giả: Friedrich August von Hayek

Dịch giả: Phạm Nguyên Trường

Chương 3: Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể

Những người xã hội chủ nghĩa tin vào hai điều hoàn toàn khác nhau, và có lẽ thậm chí là mâu thuẫn với nhau: tự do và tổ chức. Élie Halévy.

Trước khi tiếp tục cuộc hành trình, cần phải gỡ bỏ một trở ngại: sự ngộ nhận vốn đóng vai trò chính yếu trong việc để xảy ra những sự kiện mà tất cả mọi người đều chẳng thích thú gì.

Sự ngộ nhận này liên quan đến chính khái niệm xã hội chủ nghĩa. Từ này thường được sử dụng để mô tả những lý tưởng về công bằng xã hội, về bình đẳng cao hơn và an toàn hơn; đấy là các mục đích tối thượng của chủ nghĩa xã hội. Nhưng nó còn có nghĩa là một số biện pháp đặc biệt, phần lớn những người xã hội chủ nghĩa hy vọng sẽ dùng các biện pháp đó cho cuộc đấu tranh vì các mục tiêu nêu trên, và những người am hiểu còn cho rằng chỉ có dùng các biện pháp đó thì các mục tiêu nêu trên mới có thể đạt được một cách trọn vẹn và mau chóng.

Theo nghĩa này, chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với việc bãi bỏ kinh doanh cá thể, bãi bỏ sở hữu tư nhân đối với các phương tiện sản xuất và thiết lập hệ thống “kinh tế kế hoạch hóa”, trong đó các doanh nhân hoạt động vì lợi nhuận sẽ được thay thế bằng cơ quan lập kế hoạch trung ương.

Có nhiều người tự nhận là xã hội chủ nghĩa lại chỉ hiểu nghĩa thứ nhất của thuật ngữ, mặc dù họ thực sự tin rằng cần phải đạt được những mục đích tối thượng của chủ nghĩa xã hội, nhưng không để ý hoặc không hiểu phải làm như thế nào; đồng thời, còn có những người tin tưởng chắc chắn rằng phải đạt bằng được các mục tiêu như thế bằng bất cứ giá nào.

Nhưng đối với phần lớn những người mà chủ nghĩa xã hội không chỉ có nghĩa là niềm hy vọng mà còn là lĩnh vực hoạt động chính trị thì các biện pháp đặc trưng của chủ nghĩa xã hội cũng quan trọng chẳng kém gì mục tiêu. Mặt khác, có nhiều người đánh giá cao những mục tiêu tối thượng của chủ nghĩa xã hội chẳng khác gì những người xã hội chủ nghĩa, nhưng lại không ủng hộ chủ nghĩa xã hội vì họ nhận thấy những biện pháp mà những người xã hội chủ nghĩa đề xuất gây nguy hiểm cho những giá trị khác.

Như vậy, cuộc tranh luận về chủ nghĩa xã hội phần lớn liên quan đến các biện pháp chứ không phải là mục tiêu – mặc dù vấn đề các mục tiêu có thể đạt được cùng một lúc hay không cũng bị lôi kéo vào.

Chỉ riêng chuyện đó đã đủ gây ra ngộ nhận rồi, nhưng vấn đề còn bị làm cho phức tạp thêm vì người ta phủ nhận sự kiện rằng những người bác bỏ phương tiện vẫn đánh giá cao mục tiêu. Nhưng đấy không phải là tất cả.

Tình hình còn phức tạp hơn vì cùng một phương tiện – ví dụ “kế hoạch hóa nền kinh tế”, biện pháp chủ yếu của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa – có thể được sử dụng cho các mục đích khác nữa. Dĩ nhiên, muốn phân phối thu nhập cho phù hợp với quan điểm hiện nay về công bằng xã hội thì chúng ta phải điều khiển các hoạt động kinh tế từ trung ương. Vì vậy, tất cả những người đòi hỏi rằng sản xuất phát triển không nhằm mục đích kiếm lời mà vì “hạnh phúc của nhân dân” đều ưa chuộng “kế hoạch hóa”.

Nhưng chính cái kế hoạch hóa không thể nào tránh được đó, theo quan niệm của chúng tôi hiện nay, lại có thể tạo ra sự phân phối thu nhập bất công. Nếu chúng ta muốn rằng nhiều món đồ tốt của thế giới được dành cho giới tinh hoa của một chủng tộc nào đó, cho người Nordic, cho đảng viên của một đảng nào đó hoặc cho giới quý tộc, thì nhất định chúng ta phải dùng các biện pháp mà người ta vẫn dùng để bảo đảm sự phân phối theo lối bình quân.

Có lẽ lầm lẫn nằm ở chỗ: đáng lẽ phải sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội” để mô tả các biện pháp thì người ta lại dùng nó để nói về mục tiêu; sử dụng một thuật ngữ mà đối với nhiều người có nghĩa là lý tưởng cao nhất để chỉ các biện pháp đặc thù. Có lẽ nên dùng thuật ngữ chủ nghĩa tập thể để mô tả những biện pháp có thể được dùng cho những mục đích vô cùng khác nhau, và coi chủ nghĩa xã hội là một trong nhiều biến thể của nó.

Mặc dù đối với đa số những người theo trường phái xã hội chủ nghĩa chỉ có một kiểu chủ nghĩa tập thể là có thể coi là chủ nghĩa xã hội chân chính mà thôi, nhưng chúng ta phải luôn nhớ rằng chủ nghĩa xã hội là một biến thể của chủ nghĩa tập thể, và vì vậy điều gì đúng với chủ nghĩa tập thể thì cũng đúng đối với chủ nghĩa xã hội. Trên thực tế, gần như tất cả các vấn đề gây tranh cãi giữa những người xã hội chủ nghĩa và những người theo trường phái tự do đều liên quan đến các biện pháp của chủ nghĩa tập thể nói chung, chứ không liên quan đến các mục tiêu cụ thể mà những người xã hội chủ nghĩa đang nhắm tới.

Và tác phẩm này sẽ thảo luận tất cả các vấn đề liên quan đến hậu quả của việc sử dụng các biện pháp của chủ nghĩa tập thể, mà không quan tâm đến mục tiêu của các biện pháp đó. Cũng không được quên rằng hiện nay chủ nghĩa xã hội không chỉ là hình thức của chủ nghĩa tập thể hay “kế hoạch hóa” có ảnh hưởng nhất; nó còn làm cho nhiều người có tư tưởng tự do quay lại với ý tưởng chế định đời sống kinh tế, vốn đã bị bác bỏ vì, nếu nói theo lời của Adam Smith, thì nó đặt chính phủ vào tình trạng “để đứng được, nó phải sử dụng các biện pháp áp chế và bạo ngược”.34

* * *

Nhưng ngay cả khi đồng ý dùng thuật ngữ “chủ nghĩa tập thể” để chỉ tất cả các kiểu “kinh tế kế hoạch hóa”, không phụ thuộc vào mục đích của chúng, thì chúng ta cũng chưa giải quyết được tất cả những khó khăn liên quan đến khái niệm chính trị thường được sử dụng nhưng không hoàn toàn dễ hiểu.

Có thể làm cho chính xác thêm nếu nói rằng kế hoạch hóa là để thực hiện một lý tưởng phân phối nào đó. Nhưng vì ý tưởng kế hoạch hóa nền kinh tế tập trung có sức hấp dẫn chủ yếu là do tính mập mờ như thế, cho nên cần phải làm rõ ý nghĩa chính xác của nó trước khi thảo luận các hậu quả mà nó có thể gây ra.

Ý tưởng “kế hoạch hóa” được nhiều người ủng hộ trước hết là vì mọi người, dĩ nhiên, đều muốn giải quyết các vấn đề chung một cách hợp lý nhất, bằng năng lực viễn kiến mà chúng ta có thể làm chủ được. Theo ý nghĩa này, tất cả những người không hoàn toàn tin vào số phận đều suy tư theo lối “kế hoạch” hết. Và mọi hành động chính trị đều là (hoặc phải là) hành động theo kế hoạch; khác nhau chỉ ở chỗ kế hoạch đó tốt hay xấu, thông minh hay ngu đần, nhìn xa trông rộng hay thiển cận mà thôi.

Nhà kinh tế học, người mà trách nhiệm nghề nghiệp là nghiên cứu hoạt động của con người, nghiên cứu cách người ta lập kế hoạch cho những công việc của mình, không bao giờ lại phản đối việc lập kế hoạch theo nghĩa này. Nhưng đó không phải là nghĩa mà những người say mê xã hội được kế hoạch hóa sử dụng thuật ngữ này; nó cũng không chỉ có nghĩa là chúng ta phải lập kế hoạch nếu muốn phân phối thu nhập hoặc lợi ích theo những tiêu chuẩn cụ thể nào đó.

Theo các đồ đệ của lý thuyết kế hoạch hóa đương thời, cũng như để thực hiện các mục đích của họ, thì việc thiết lập một hệ thống duy lý rồi để cho những người tham gia tự hoạt động theo các kế hoạch của riêng mình là chưa đủ. Kế hoạch của phái tự do, theo họ, không phải là kế hoạch – và quả thật, đó không phải là kế hoạch nhằm đáp ứng quan niệm rằng ai được phân phối cái gì.

Cái mà các đồ đệ của lý thuyết kế hoạch hóa yêu cầu là quản lý tập trung toàn bộ các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch thống nhất, trong đó cách thức sử dụng các nguồn lực của xã hội để đạt các mục tiêu nhất định, bằng những biện pháp xác định, đã được liệt kê đầy đủ.

Do vậy, cuộc tranh luận giữa những người ủng hộ và phản đối kế hoạch hóa không phải là liệu chúng ta có nên lựa chọn hình thức tổ chức xã hội một cách thông minh hay không, cũng không phải là vấn đề áp dụng các dự báo và tư duy hệ thống vào việc lập các kế hoạch của chúng ta.

Vấn đề được đem ra thảo luận lại là: đâu là cách làm tốt nhất? Vấn đề là để đạt được các mục đích như thế thì người nắm quyền lực cưỡng bức [chính phủ – ND] phải tự giới hạn trong việc tạo ra những điều kiện trong đó kiến thức và sáng kiến của các cá nhân có những cơ hội tốt nhất để họ có thể lập kế hoạch cho các hoạt động của mình, hay việc sử dụng các nguồn lực của chúng ta một cách hợp lý đòi hỏi phải có sự quản lý tập trung và tổ chức toàn bộ các hoạt động của chúng ta theo một bản “kế hoạch chi tiết” được lập ra một cách tự giác từ trước.

Những người xã hội chủ nghĩa thuộc mọi đảng phái đều coi loại kế hoạch hóa thứ hai mới là kế hoạch hóa, và hiện nay đó chính là ý nghĩa được nhiều người chia sẻ hơn cả. Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là phương pháp quản lý đời sống kinh tế duy lý kiểu đó là phương pháp duy nhất. Những người ủng hộ kế hoạch hóa và những người theo phái tự do chia rẽ nhau sâu sắc nhất chính ở điểm này.

* * *

Điều quan trọng là không được lẫn lộn giữa quan niệm của những người phản đối kiểu “kế hoạch hóa” này với thái độ laissez-faire giáo điều. Phái tự do không ủng hộ quan điểm bỏ mặc cho mọi sự muốn ra sao thì ra; họ ủng hộ việc sử dụng một cách tốt nhất các lực lượng cạnh tranh, coi đó là biện pháp phối hợp nỗ lực của con người.

Nó xuất phát từ niềm tin rằng hệ thống cạnh tranh hiệu quả chính là kim chỉ nam tốt nhất cho các cố gắng của từng cá nhân. Nó không những không phủ nhận mà còn nhấn mạnh rằng để hệ thống cạnh tranh hoạt động hiệu quả thì phải có một khung pháp lý thật rõ ràng, và các điều luật, cả trong quá khứ cũng như hiện tại, đều có những khiếm khuyết nghiêm trọng. Nó cũng không phủ nhận sự kiện rằng trong những lĩnh vực không thể tạo được điều kiện cho cạnh tranh hiệu quả thì phải dùng các biện pháp quản lý kinh tế khác.

Chủ nghĩa tự do kinh tế chỉ phản đối việc thay thế hệ thống cạnh tranh bằng những biện pháp phối hợp hoạt động thô sơ hơn mà thôi. Chủ nghĩa tự do coi cạnh tranh là ưu việt hơn không chỉ vì trong hầu hết các trường hợp đó chính là biện pháp hữu hiệu nhất, mà thậm chí hơn thế, còn vì đây là phương pháp không đòi hỏi sự can thiệp có tính cưỡng bức hoặc độc đoán của chính quyền. Nó bác bỏ “sự kiểm soát xã hội một cách tự giác” và dành cho cá nhân cơ hội quyết định liệu triển vọng của một công việc cụ thể có bù đắp được những thiệt hại và rủi ro đi kèm với công việc đó hay không.

Sử dụng một cách hiệu quả cạnh tranh – như nguyên tắc tổ chức xã hội – sẽ loại bỏ được một số hình thức can thiệp mang tính cưỡng bức đối với đời sống kinh tế, nhưng lại cho phép những sự can thiệp khác, những can thiệp mà đôi khi có tác dụng hỗ trợ đáng kể cho hoạt động của nó và thậm chí là đòi hỏi chính phủ phải có những hành động nhất định.

Nhưng có đầy đủ lý do để nhấn mạnh vì sao có những tình huống không được sử dụng các biện pháp can thiệp mang tính cưỡng bức. Trước hết là các bên tham gia thị trường phải có toàn quyền mua và bán hàng hóa với giá bất kỳ, miễn là tìm được người muốn mua, và mọi người được tự do sản xuất, bán và mua tất cả những thứ có thể được sản xuất và có người mua.

Quan trọng là mọi lĩnh vực đều mở rộng cửa, trên cơ sở như nhau, cho tất cả mọi người cùng tham gia, và pháp luật phải ngăn chặn mọi hành vi của các cá nhân hoặc các nhóm người, dù công khai hay bí mật, cố tình cản trở, không cho người ta bước vào thương trường. Bất kỳ biện pháp kiểm soát giá cả hay sản lượng hàng hóa nào cũng đều làm cho cạnh tranh mất khả năng điều phối hữu hiệu các cố gắng của các cá nhân, vì sự giao động của giá cả, trong trường hợp đó, sẽ không phản ánh được tình hình của thị trường và không còn là chỉ dẫn đáng tin cậy cho hoạt động của các cá nhân nữa.

Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đúng. Các biện pháp hạn chế nhằm ngăn chặn một số công nghệ là có thể chấp nhận được, miễn là được áp dụng cho tất cả các nhà sản xuất tiềm năng và không phải là các biện pháp quản lý gián tiếp giá cả hoặc sản lượng hàng hóa.

Mặc dù việc kiểm soát phương pháp sản xuất như thế thường dẫn đến các chi phí phụ trội (để sản xuất cùng một lượng hàng hóa phải cần nhiều nguồn lực hơn), đây vẫn có thể là việc làm cần thiết. Việc cấm sử dụng các chất độc hại hay yêu cầu áp dụng các biện pháp an toàn, giới hạn thời gian làm việc và các quy tắc vệ sinh có thể được áp dụng mà vẫn bảo đảm cạnh tranh. Vấn đề ở đây chỉ là lợi ích thu được có lớn hơn các chi phí xã hội hay không mà thôi.

Cạnh tranh có thể đồng hành với một hệ thống dịch vụ công cộng rộng khắp, miễn là tổ chức dịch vụ xã hội đó không được thiết kế nhằm làm cho cạnh tranh trở thành không hiệu quả trong những lĩnh vực rộng lớn khác.

Đáng tiếc là, mặc dù giải thích chuyện này không phải là việc khó, nhưng trong quá khứ người ta thường chú ý đến các biện pháp cấm đoán hơn là các biện pháp tích cực nhằm khuyến khích hệ thống cạnh tranh hoạt động hiệu quả.

Cạnh tranh đòi hỏi không chỉ tổ chức một cách phù hợp các thiết chế như tiền, thị trường và các kênh thông tin – một số thiết chế vượt quá khả năng cung ứng của doanh nghiệp tư nhân – mà trước hết nó cần một hệ thống pháp luật thích hợp, tức là hệ thống pháp luật được xây dựng nhằm bảo vệ và thúc đẩy cạnh tranh một cách hiệu quả nhất.

Mới chỉ có luật công nhận tư hữu và tự do ký kết hợp đồng thì chưa đủ; phải có định nghĩa chính xác về quyền sở hữu cho những loại tài sản khác nhau. Đáng buồn là việc nghiên cứu một cách có hệ thống các thiết chế pháp lý nhằm thúc đẩy hệ thống cạnh tranh hoạt động một cách hữu hiệu đã bị bỏ bê; kiến thức trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều thiếu sót, đặc biệt là trong lĩnh vực luật về công ty và bằng sáng chế. Điều này không những làm cho cạnh tranh trở nên kém hiệu quả, mà còn có thể phá hủy cạnh tranh trong nhiều lĩnh vực.

Cuối cùng, không nghi ngờ gì rằng có những lĩnh vực mà không một quy định pháp luật nào lại có thể tạo ra được các điều kiện khiến cho việc sử dụng tài sản tư nhân và cạnh tranh trở nên hữu dụng. Cụ thể, đó là những lĩnh vực mà người chủ sở hữu sẽ được hưởng lợi từ mọi dịch vụ gắn với tài sản của anh ta và chuyển tất cả thiệt hại trong quá trình sử dụng tài sản đó cho những người khác.

Trong những lĩnh vực như vậy, ví dụ khi chất lượng dịch vụ không phụ thuộc vào giá cả của chúng, thì cạnh tranh sẽ bất lực; tương tự như thế, hệ thống giá cả sẽ trở nên vô hiệu nếu không buộc được người chủ sở hữu đền bù những thiệt hại mà anh ta gây ra trong khi sử dụng tài sản của mình. Trong tất cả những trường hợp như thế, ta đều thấy có sự sai biệt giữa các số liệu trong các tính toán của cá nhân và các số liệu phản ánh phúc lợi của toàn xã hội; nếu sai biệt này quá lớn thì không thể sử dụng các biện pháp cạnh tranh mà phải dùng các biện pháp khác.

Ví dụ, trong đa số trường hợp, từng người sử dụng không thể trả tiền cho các thiết bị chỉ đường, cũng như không thể trả tiền xây dựng đường xá. Còn việc phá rừng, một số cách làm đất, khói bụi hay tiếng ồn do nhà máy gây ra không chỉ làm cho các chủ sở hữu bị thiệt hại, hoặc chỉ gây thiệt hại cho những người sẵn sàng chịu đựng miễn là được đền bù thỏa đáng. Trong những trường hợp như thế, phải tìm được cơ chế điều tiết khác thay thế cho cơ chế giá cả.

Nhưng việc chúng ta phải sử dụng quyền lực trong những lĩnh vực mà chúng ta không thể tạo được điều kiện cho cạnh tranh hoạt động không có nghĩa là chúng ta cần dẹp bỏ cạnh tranh trong những lĩnh vực mà nó có thể hoạt động.

Tạo điều kiện để cạnh tranh hoạt động một cách hiệu quả nhất, hỗ trợ cạnh tranh khi nó không thể hoạt động và cung cấp các dịch vụ mà, theo lời Adam Smith, “mặc dù rất hữu ích cho xã hội nói chung, nhưng lại là những dịch vụ mà lợi nhuận không thể bù đắp được chi phí nếu đó là do một cá nhân hay một nhóm cá nhân thực hiện” – đó là lĩnh vực hoạt động rộng lớn mà chính phủ không thể thoái thác được.

Không một hệ thống tổ chức hợp lý nào lại để cho nhà nước trở thành “thất nghiệp” cả. Hệ thống cạnh tranh hiệu quả cần một khuôn khổ pháp lý được thiết kế một cách thông minh và được hiệu chỉnh thường xuyên, như bất kỳ hệ thống nào khác. Thậm chí, điều kiện tiên quyết nhất cho việc vận hành của hệ thống cạnh tranh – ngăn chặn gian lận và lừa đảo (trong đó có việc lợi dụng sự kém hiểu biết của đối tác) – là một công việc cực kỳ to lớn, nhưng vẫn chưa phải là toàn bộ đối tượng của hoạt động lập pháp.

* * *

Nhiệm vụ thiết lập khuôn khổ cho cạnh tranh hoạt động theo lối có lợi chưa làm được bao nhiêu thì tất cả các quốc gia trên thế giới đều quay lưng lại với nó, thay thế nó bằng một nguyên tắc khác, không thể dung hòa với cạnh tranh. Vấn đề không phải là làm cho cạnh tranh hoạt động, cũng không phải là bổ sung, mà là thay thế hoàn toàn.

Điều quan trọng là phải hiểu thật rõ: phong trào ủng hộ nguyên tắc kế hoạch hóa hiện đại là phong trào bài bác cạnh tranh như nó vốn là; tất cả những kẻ thù cũ của hệ thống cạnh tranh đều tập hợp dưới ngọn cờ mới này. Và mặc dù dưới ngọn cờ đó, các nhóm lợi ích khác nhau tìm cách giành lại cho bằng được những đặc quyền đặc lợi mà kỷ nguyên tự do đã bãi bỏ, nhưng chính bộ máy tuyên truyền cho kế hoạch hóa của phái xã hội chủ nghĩa đã khôi phục được thái độ tôn trọng của những người có đầu óc tự do bài bác cạnh tranh và ru ngủ được tinh thần cảnh giác lành mạnh mỗi khi có người muốn bãi bỏ hệ thống cạnh tranh.35

Lòng căm thù cạnh tranh và ước muốn thay thế nó bằng một nền kinh tế chỉ huy là chất kết nối duy nhất giữa những người xã hội chủ nghĩa cánh Hữu và cánh Tả. Và mặc dù “chủ nghĩa tư bản” và “chủ nghĩa xã hội” là những thuật ngữ vẫn thường được sử dụng để mô tả xã hội cũ và xã hội tương lai, những thuật ngữ này chẳng những không làm rõ mà còn cố tình che giấu bản chất của giai đoạn mà chúng ta đang trải qua.

Thế nhưng, mặc dù tất cả những thay đổi mà chúng ta đang chứng kiến đều đi theo hướng quản lý tập trung toàn bộ hoạt động kinh tế, cuộc chiến đấu chống cạnh tranh mang tính toàn cầu hiện nay sẽ chỉ tạo ra một hình thức tổ chức thậm chí còn kém hơn về nhiều mặt và làm cho cả những người ủng hộ kế hoạch hóa lẫn những người theo phái tự do đều bất mãn. Đó sẽ là hình thức tổ chức theo kiểu nghiệp đoàn hoặc “phường hội”, trong đó cạnh tranh sẽ bị ngăn chặn phần nào, nhưng việc lập kế hoạch lại rơi vào tay các công ty độc quyền độc lập, kiểm soát một số ngành riêng biệt.

Đó sẽ là kết cục tất yếu dành cho những người liên kết với nhau bởi lòng căm thù cạnh tranh, nhưng chỉ đồng ý được với nhau về rất ít vấn đề khác. Chính sách phá hủy cạnh tranh từ ngành công nghiệp này đến ngành công nghiệp khác sẽ biến người tiêu dùng thành miếng mồi ngon cho những hành động độc quyền có phối hợp của các nhà tư bản và công nhân trong những xí nghiệp được tổ chức tốt nhất.

Tình trạng này đã tồn tại trong nhiều lĩnh vực kinh tế và mặc dù phần lớn công tác tuyên truyền rối rắm (và đa số là vụ lợi) đang nhắm tới mục đích đó, thì tình trạng này khó có thể kéo dài được lâu và cũng chẳng thể nào biện hộ nổi. Trên thực tế, các kế hoạch độc lập do các công ty độc quyền thực hiện nhất định sẽ dẫn tới những hậu quả trái ngược hẳn với kết quả mà các luận cứ ủng hộ kinh tế kế hoạch hóa nhắm tới.

Một khi giai đoạn này được thực hiện, thì người ta hoặc phải quay về với cạnh tranh, hoặc phải giao cho nhà nước kiểm soát hoạt động của các công ty độc quyền – một sự kiểm soát mà, muốn có hiệu quả, thì phải ngày càng mở rộng và chi tiết hơn. Chúng ta đang nhanh chóng tiến tới giai đoạn này. Ngay trước chiến tranh, một tờ tuần san đã chỉ ra rằng có nhiều chỉ dấu cho thấy các nhà lãnh đạo Anh quốc ngày càng có thói quen tư duy về tương lai của đất nước bằng các thuật ngữ của các công ty độc quyền được kiểm soát; khi đó, đánh giá như thế có thể là đúng. Chiến tranh đã góp phần thúc đẩy quá trình này, và các mối nguy hiểm cũng như những khiếm khuyết chết người của nó sẽ trở nên hoàn toàn rõ ràng trong một ngày không xa.

Ý tưởng về việc quản lý tập trung toàn bộ nền kinh tế vẫn làm nhiều người kinh hãi không chỉ vì đây là vấn đề cực kỳ phức tạp, mà còn vì họ sợ khi nghĩ rằng tất cả mọi thứ đều được chỉ đạo từ một trung tâm duy nhất. Và nếu chúng ta, bất chấp tất cả, vẫn tiếp tục lao theo hướng đó thì chỉ là vì nhiều người vẫn tin rằng có thể tìm được biện pháp trung dung giữa cạnh tranh “cá thể” và chỉ đạo từ trung ương.

Mới nhìn thì đó là quan điểm hợp lý hoặc hấp dẫn đối với những người có tư duy duy lý, hơn là ý tưởng cho rằng mục đích của chúng ta phải là hoặc là phi tập trung hóa hoàn toàn và cạnh tranh tuyệt đối, hoặc là tập trung hóa và kế hoạch hóa hết tất cả mọi thứ, mà là sự kết hợp một cách thông minh cả hai phương pháp. Nhưng hóa ra trong trường hợp này, lương tri lại là người dẫn đường không đáng tin.

Mặc dù cạnh tranh có thể chấp nhận một sự điều tiết nào đó, nhưng nó không thể kết hợp với kế hoạch hóa mà không làm giảm hiệu quả của mình như một nhân tố của quá trình dẫn dắt sản xuất. “Kế hoạch hóa” cũng không phải là một thứ thuốc có thể dùng với liều lượng nhỏ, chứ không áp dụng đại trà, mà vẫn tạo được hiệu quả như người ta hy vọng.

Khi được sử dụng dưới dạng cắt xén, thì cả cạnh tranh lẫn kế hoạch hóa đều sẽ trở thành những công cụ tồi và thiếu hiệu quả. Đây là những nguyên tắc mà ta có thể lựa chọn để giải quyết cùng một vấn đề; trộn lẫn hai nguyên tắc này vào với nhau có nghĩa là không có công cụ nào thực sự hoạt động, và kết quả sẽ tồi tệ hơn là chỉ áp dụng một cách nhất quán một trong hai nguyên tắc nói trên.

Nói cách khác, có thể kết hợp giữa kế hoạch hóa và cạnh tranh để lập kế hoạch cho cạnh tranh, chứ không phải lập kế hoạch để chống lại cạnh tranh.

Xin độc giả luôn luôn nhớ rằng kế hoạch hóa mà chúng ta phê phán trong cuốn sách này trước hết và chỉ là kế hoạch hóa nhằm chống lại cạnh tranh, tức là kế hoạch hóa thay thế cạnh tranh. Điều này càng đặc biệt quan trọng vì chúng ta không thể thảo luận ở đây biện pháp kế hoạch hóa cực kỳ cần thiết, tức là kế hoạch hóa làm cho cạnh tranh trở nên hiệu quả và mang lại lợi ích cao nhất.

Vì trong cách nói hiện nay, thuật ngữ “kế hoạch hóa” gần như đồng nghĩa với kế hoạch hóa nhằm chống lại cạnh tranh, nên để cho ngắn gọn, chúng ta sẽ nói đơn giản là “kế hoạch hóa” — mặc dù như thế có nghĩa là chúng ta đã nhường cho các đối thủ của mình một từ rất hay, một từ xứng đáng được hưởng một số phận tốt đẹp hơn.

Chú thích:

[34] Trích từ nhận xét của Adam Smith năm 1755, được Dugald Steward dẫn lại trong tác phẩm Memoir of Adam Smith.

[35] Sự thật là gần đây một số học giả xã hội chủ nghĩa, vì bị phê phán và lo sợ rằng trong xã hội được lập kế hoạch từ trung ương sẽ không còn tự do, đã phát minh ra một luận điểm mới gọi là “chủ nghĩa xã hội cạnh tranh” mà theo họ là sẽ tránh được các mối hiểm nguy của kế hoạch hoá tập trung và kết hợp được bãi bỏ tư hữu với việc bảo vệ quyền tự do cá nhân. Mặc dù trên một vài tờ tạp chí người ta có thảo luận loại hình chủ nghĩa xã hội này, chắc là chẳng có mấy chính khách quan tâm. Mà có quan tâm đi chăng nữa thì cũng dễ dàng chứng minh rằng đây là quan điểm viển vông và chứa đầy mâu thuẫn nội tại (tác giả đã thử làm việc này, xem Economica, 1940). Không xác định được ai sẽ sử dụng các nguồn lực và sử dụng cho ai thì không thể thiết lập được sự kiểm soát toàn bộ các nguồn lực của sản xuất. Và mặc dù trong “chủ nghĩa xã hội cạnh tranh” kế hoạch hoá sẽ được thực hiện một cách lắt léo nhưng kết quả thì vẫn vậy, nhân tố cạnh tranh chỉ là bình phong mà thôi.