Phong Trào Duy Tân

Luận cương Liên bang số 54: Việc phân bổ ghế dân biểu giữa các tiểu bang

Bản tiếng Anh từ Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.

Nguyễn Huy Vũ dịch và giới thiệu.

Giới thiệu:

Luận cương Liên bang số 54 được viết bởi Alexander Hamilton hoặc James Madison. Trong Luận cương này, tác giả tập trung vào việc lý giải cách phân bổ ghế dân biểu giữa các tiểu bang mà một khúc mắc đó là vấn đề nô lệ da đen — nô lệ không được nhìn nhận như là thành viên của xã hội, nhưng cũng không hẳn là hàng hoá, dù nó là tài sản của chủ nô. 

Ở Điều 1, Mục 2, Khoản 3 của Hiến pháp năm 1787 trình bày như sau: “Số dân biểu và thuế trực thu sẽ được phân bổ cho các tiểu bang theo tổng số người tự do (kể cả người làm công theo hợp đồng có thời hạn), loại trừ người da đỏ không phải đóng thuế, và 3/5 con số “tất cả những người khác” (tức là nô lệ).

Có nghĩa là mỗi nô lệ được tính tương đương với 3/5 người bình thường. 

Câu hỏi rằng tại sao là 3/5 mà không là một tỉ lệ khác? Đó là bởi vì đây là một sự thương lượng gay gắt giữa hai phe Miền Bắc và Miền Nam tại Hội nghị Lập hiến Philadelphia năm 1787 giữa hai nhóm lợi ích đối lập:

Nhóm miền Bắc, gồm các tiểu bang công nghiệp, ít hoặc không có nô lệ muốn nô lệ chỉ được tính vào thuế (để miền Nam phải nộp thuế nhiều hơn) nhưng không được tính vào số ghế Hạ viện (để miền Nam có ít ghế hơn). 

Miền Nam, gồm các tiểu bang trồng trọt lớn, phụ thuộc vào lao động nô lệ, muốn nô lệ được tính đầy đủ vào số ghế Hạ viện (để có nhiều ghế hơn) nhưng không tính hoặc tính ít vào thuế (để đóng thuế ít hơn). 

Không bên nào chịu nhường dẫn đến nguy cơ tan rã Hội nghị. Ngày 11 tháng 7 năm 1787, sau nhiều ngày tranh cãi quyết liệt, Hội nghị đã bỏ phiếu thông qua giải pháp thỏa hiệp do James Wilson và Roger Sherman đề xuất: lấy đúng con số đã từng xuất hiện trong Tu chính án Liên bang cũ năm 1783 (khi tính thuế giữa các bang) là 3/5.

Kết quả: mỗi nô lệ được tính bằng 3/5 người tự do cho cả hai mục đích: ghế Hạ viện và thuế trực thu. Như vậy, cả hai miền đều phải “nhượng” một chút, nhưng không bên nào bị thiệt hoàn toàn.

Trong Luận cương tác giả đã bảo vệ quy tắc này rất khéo, ông đưa ra4 lập luận chính, đều rất thực dụng và “chấp nhận được” với cả hai miền, như sau:

i) Nô lệ có tính chất hỗn hợp: vừa là tài sản, vừa là nhân thân theo luật các tiểu bang. Và như vậy, 3/5 là sự thừa nhận trung thực về thực tế pháp lý.

ii) Công bằng chính trị: nếu tính nô lệ 5/5 cho thuế nhưng 0/5 cho ghế thì miền Nam sẽ không bao giờ chấp nhận Hiến pháp.

iii) Bảo vệ tài sản: chính phủ phải bảo vệ tài sản (bao gồm cả “tài sản con người” ở miền Nam), nên miền Nam xứng đáng có thêm một ít ghế tương ứng với tài sản lớn hơn của họ.

iv) Lợi ích kỹ thuật: dùng cùng một con số cho cả ghế và thuế khiến các tiểu bang không dám gian lận thống kê dân số, và điều này dẫn đến cuộc điều tra dân số sẽ trung thực hơn.

Tuy vậy, sau Nội chiến, với việc giải phóng chế độ nô lệ, điều khoản này đã bị bãi bỏ hoàn toàn bởi Tu chính án thứ 14 (1868): “Số Dân biểu của mỗi bang được phân bổ theo dân số của bang đó, không tính người Da đỏ không chịu thuế.” Từ đó trở đi, mọi người (kể cả người da đen tự do sau này) đều được tính như người bình thường (5/5).

Tóm lại, quy tắc 3/5 là một trong những thỏa hiệp chính trị đau đớn và đầy tranh cãi nhất trong lịch sử lập hiến Mỹ – nó vừa giúp Hiến pháp 1787 được thông qua, vừa kéo dài thêm gần 80 năm chế độ nô lệ bằng cách trao cho các tiểu bang nô lệ quyền lực chính trị lớn hơn thực tế dân số tự do của họ.

Luận cương Liên bang số 54:  Việc phân bổ ghế dân biểu giữa các tiểu bang

(New York Packet, Thứ Ba, ngày 12 tháng Hai năm 1788)

Tác giả: Alexander Hamilton hoặc James Madison

Kính gửi Nhân dân Tiểu bang New York,

Nguyên tắc phân bổ số ghế tại Hạ viện cho các tiểu bang sẽ được xác định theo cùng một quy tắc áp dụng cho thuế trực thu. Không ai tranh cãi rằng số dân của mỗi tiểu bang phải là tiêu chuẩn điều chỉnh tỷ lệ đại biểu của tiểu bang đó, cũng như việc áp dụng cùng quy tắc ấy cho thuế khóa hầu như không gặp phản đối – dù trong trường hợp thuế, quy tắc này không hoàn toàn dựa trên cùng một nguyên lý. Với đại diện, quy tắc gắn liền với quyền cá nhân của con người. Với thuế khóa, quy tắc lại liên quan đến tỷ lệ tài sản – mà dân số không phải lúc nào cũng là thước đo chính xác, thậm chí thường là thước đo không phù hợp. Tuy nhiên, giữa các quy tắc khả thi, đây rõ ràng là quy tắc ít bất cập nhất và đã nhận được sự đồng thuận chung của nước Mỹ gần đây, vì thế được Công ước ưu tiên chấp nhận.

Dẫu vậy, một câu hỏi vẫn được đặt ra với toàn bộ sức nặng nề của nó: từ việc thừa nhận dân số làm thước đo đại diện, hoặc từ việc lấy tổng số nô lệ cộng với công dân tự do làm cơ sở tính thuế, liệu có nhất thiết phải đưa nô lệ vào công thức tính số đại biểu hay không? Nô lệ được xem là tài sản chứ không phải nhân thân, do đó họ phải được tính vào ước lượng thuế khóa (vì thuế dựa trên tài sản) nhưng phải bị loại khỏi đại diện (vì đại diện dựa trên thống kê nhân khẩu tự do). Đó là lập luận của phe phản đối, được trình bày ở mức độ mạnh mẽ nhất.

Tôi sẽ trình bày một cách trung thực và đầy đủ các luận cứ của phía đối lập – như một đại biểu miền Nam có thể lập luận:

«Chúng tôi hoàn toàn chấp nhận học thuyết rằng đại diện gắn trực tiếp hơn với nhân thân, còn thuế khóa gắn trực tiếp hơn với tài sản, và chúng tôi đồng ý áp dụng sự phân biệt này cho trường hợp nô lệ. Song chúng tôi phủ nhận sự kiện rằng nô lệ chỉ được xem thuần túy là tài sản mà không hề mang tính chất nhân thân. Thực trạng đúng đắn là họ mang cả hai phẩm chất ấy: luật pháp của chúng tôi, ở một số khía cạnh, coi họ là nhân thân, ở những khía cạnh khác lại coi họ là tài sản. Việc bị cưỡng bức lao động cho chủ, bị mua bán như hàng hóa, bị tước đoạt tự do và chịu hình phạt thân thể theo ý muốn tùy tiện của kẻ khác khiến nô lệ dường như bị giáng xuống dưới bậc nhân loại và xếp chung với súc vật. Tuy nhiên, việc được pháp luật bảo vệ tính mạng và chi thể khỏi bạo lực của bất kỳ ai kể cả chủ nô, việc tự mình phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bạo lực đối với người khác lại chứng tỏ nô lệ được luật pháp nhìn nhận là thành viên của xã hội, là một chủ thể đạo đức chứ không chỉ đơn thuần là vật sở hữu. Vì vậy, Hiến pháp liên bang đã phán quyết hết sức thích đáng khi nhìn nhận nô lệ theo tính chất hỗn hợp – vừa nhân thân vừa tài sản. Đó chính là bản chất thực của họ theo các bộ luật hiện hành, và không ai có thể phủ nhận rằng chính những bộ luật ấy là tiêu chuẩn thích hợp. Chính nhờ lấy cớ rằng luật pháp đã biến người da đen thành đối tượng sở hữu mà người ta tranh cãi việc không tính họ vào tổng nhân khẩu; và cũng chính phía phản đối thừa nhận rằng nếu luật pháp trả lại các quyền đã bị tước đoạt, người da đen sẽ không còn bị từ chối quyền đại diện bình đẳng với các cư dân khác.»

Câu hỏi có thể được nhìn dưới một góc độ khác. Tất cả các bên đều đồng ý rằng dân số là thước đo tốt nhất cho cả tài sản lẫn đại diện. Liệu Công ước có công bằng và nhất quán không nếu loại nô lệ khỏi danh sách cư dân khi tính ghế đại biểu, nhưng lại đưa họ vào khi tính thuế? Liệu các tiểu bang miền Nam có thể chấp nhận một hệ thống coi nô lệ là người ở mức độ nào đó khi áp đặt gánh nặng thuế khóa, nhưng lại hoàn toàn không coi họ là người khi phân bổ quyền lợi chính trị?

Hơn nữa, những người chỉ trích miền Nam về chính sách man rợ biến một phần đồng loại thành tài sản, lại chính họ đòi hỏi chính phủ liên bang mà tất cả các tiểu bang cùng tham gia phải nhìn nhận chủng tộc bất hạnh này thuần túy hơn nữa dưới ánh sáng phi nhân bản của tài sản – điều này há không gây ngạc nhiên sao?

Một phản biện khác: trong các tiểu bang có nô lệ, nô lệ không được bầu cử và cũng không làm tăng số phiếu của chủ nô, vậy dựa trên nguyên tắc nào mà họ lại được tính vào tổng liên bang để phân bổ ghế?

Câu trả lời là: Hiến pháp đề xuất đặt nguyên tắc cơ bản rằng tổng số đại biểu được ấn định theo quy tắc liên bang dựa trên tổng số cư dân, còn quyền bầu ra số đại biểu ấy thuộc về bộ phận cư dân mà mỗi tiểu bang tự chỉ định. Quyền bầu cử ở các tiểu bang không hoàn toàn giống nhau; ở một số tiểu bang còn có chênh lệch đáng kể. Luôn luôn có một bộ phận cư dân bị chính hiến pháp tiểu bang tước quyền bầu cử, nhưng họ vẫn được tính vào thống kê dân số liên bang để phân bổ ghế. Nếu tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc không quan tâm đến chính sách riêng của từng tiểu bang đối với cư dân của mình, thì nô lệ phải được tính đầy đủ như mọi cư dân khác. Tuy nhiên, phía được lợi từ nguyên tắc nghiêm ngặt ấy lại tự nguyện từ bỏ; họ chỉ yêu cầu sự điều tiết tương đương từ phía đối phương. Hãy nhìn nhận trường hợp nô lệ đúng như bản chất đặc thù của nó, và cùng chấp nhận giải pháp thỏa hiệp mà Hiến pháp đưa ra: coi nô lệ là cư dân, nhưng bị hạ thấp bởi tình trạng nô lệ, bị tước đi 2/5 nhân tính.

Sau cùng, còn một lập luận bảo vệ điều khoản này một cách thuyết phục hơn nữa: Cho đến nay chúng ta vẫn cho rằng đại diện chỉ liên quan đến nhân thân mà không liên quan đến tài sản. Nhưng liệu quan niệm ấy có hoàn toàn chính xác? Chính thể được thiết lập không chỉ để bảo vệ nhân thân mà còn để bảo vệ tài sản của cá nhân. Do đó, tài sản cũng cần được đại diện ở một mức độ nào đó. Các tiểu bang giàu có hơn có nhiều tài sản hơn cần bảo vệ, vì thế việc cho họ thêm một ít ghế (thông qua quy tắc 3/5) là công bằng.

Hơn nữa, việc áp dụng cùng một tiêu chuẩn dân số cho cả đại diện và thuế khóa mang lại hiệu quả chính trị rất đáng quý: các tiểu bang không còn động cơ để thổi phồng hoặc che giấu dân số trong cuộc thống kê. Nếu chỉ dùng dân số để tính ghế, họ sẽ phóng đại; nếu chỉ dùng để tính thuế, họ sẽ che giấu. Khi cùng một con số quyết định cả hai, các lợi ích đối nghịch sẽ triệt tiêu lẫn nhau, tạo nên sự trung thực cần thiết.

PUBLIUS.


Đăng ngày

trong