Phong Trào Duy Tân

Kế hoạch cho cách mạng phi bạo lực. Chương 1: Nó không bao giờ xảy ra ở đây

Tác giả: Srdja Popovic, cùng với Matthew Miller

Dịch bởi: Phạm Nguyên Trường

Hiệu đính: Nguyễn Huy Vũ

Thành phố Belgrade xinh đẹp của tôi có lẽ không nằm trong danh sách mười địa điểm hàng đầu bạn nên đến thăm trước khi từ giã cõi đời này. Một số khu phố có thể khá nguy hiểm, và người Serbia chúng tôi nổi tiếng là những kẻ thích gây rối. Đó là lý do mà vì sao chúng tôi đã lấy tên Gavrilo Princip, người bị cáo buộc đã gây ra Đệ nhất Thế chiến, để đặt cho một đường phố lớn, và lấy tên nhóm các nhà cách mạng của ông ta để đặt cho một đường phố khác. Và rồi, còn cả ký ức về tên độc tài cũ của chúng tôi, Slobodan Milošević, một kẻ điên rồ đã mang khái niệm “thanh lọc sắc tộc” ra thế giới — trong những năm 1990, ông ta đã gây ra bốn cuộc chiến tranh thảm khốc với các nước láng giềng, và dẫn đến hàng loạt vụ đánh bom của NATO làm tàn phá thành phố này. Nhưng tất cả những điều đó không quan trọng đối với một nhóm mười lăm người Ai Cập đã đến thăm Belgrade vào tháng 6 năm 2009. Đó là do họ không đến để tìm kiếm một kỳ nghỉ hè thư giãn. Họ đến để lập kế hoạch cho một cuộc cách mạng.

Với mục đích cụ thể của họ, địa điểm đầu tiên tôi muốn cho họ thấy lại là nơi cuối cùng tôi muốn giới thiệu cho bất kỳ du khách nào khác: Quảng trường Cộng hòa. Để hình dung khu vực bẩn thỉu và méo mó này, hãy tưởng tượng một người nào đó lấy Quảng trường Thời đại, rồi thu nhỏ nó lại, hút hết năng lượng, gỡ bỏ đèn neon, chỉ còn lại giao thông và bụi bẩn. Tuy nhiên, những người Ai Cập này không hề quan tâm đến việc đó — họ hy vọng sẽ lật đổ nhà độc tài của chính mình, Hosni Mubarak, và đối với họ, Quảng trường Cộng hòa không chỉ là điểm thu hút du khách mà còn là điểm khởi đầu của một phong trào phi bạo lực do một nhóm thanh niên bình thường khởi xướng và phát triển thành một lực lượng chính trị khổng lồ, để rồi lực lượng này đã làm nên điều không tưởng đó là lật đổ nhà độc tài Milošević. Tôi là thành viên của ban lãnh đạo phong trào đó, và những người bạn Ai Cập của tôi đến thăm với hy vọng họ có thể học hỏi được điều gì đó từ những người Serbia chúng tôi.

Tôi dẫn cả nhóm đến một góc yên tĩnh, cách xa những quán cà phê nhộn nhịp với những người phục vụ quá tải, và bắt đầu câu chuyện ngắn gọn của mình. Ngày xửa ngày xưa, tôi vừa kể với họ vừa chỉ vào những cửa hàng sang trọng—Armani, Burberry, Max Mara—nằm rải rác khắp Quảng trường Cộng hòa, nền kinh tế Serbia tồi tệ đến mức giá hai cân khoai tây tăng vọt từ bốn nghìn dinar lên mười bảy tỷ chỉ trong một năm. Chưa hết, chúng tôi còn đang đánh nhau với nước láng giềng Croatia. Và nếu bạn tìm cách lên tiếng chống lại những chính sách sai lầm dẫn đến sự sụp đổ về kinh tế và sự suy yếu về an ninh của chúng tôi, bạn sẽ bị bắt, bị đánh đập và thậm chí còn tệ hơn. Năm 1992, tôi là sinh viên năm nhất ngành sinh học, và tương lai của những người Serbia trẻ tuổi như chúng tôi trông rất ảm đạm.

“Ừ,” một người Ai Cập đáp lại với một tiếng cười, “chúng tôi biết cảm giác đó như thế nào!”

Những người bạn Ai Cập tiếp tục gật đầu, ra chiều đã hiểu, khi tôi kể tiếp câu chuyện của mình. Tôi nói với họ rằng, trước những cuộc đàn áp của Milošević, phản ứng tự nhiên—ít nhất là ban đầu—chính là sự thờ ơ. Xét cho cùng, tôi và bạn bè đâu phải kiểu người có thể hình dung một ngày nào đó sẽ khởi xướng một phong trào. Chúng tôi không phải những chính trị gia đầy tham vọng, mà chỉ là sinh viên đại học, với những mối quan tâm rất đỗi quen thuộc ở bất cứ nơi đâu: thức khuya, uống rượu, và tìm cách hẹn hò. Nếu khi ấy bạn hỏi điều gì có thể khiến tôi bước ra khỏi nhà và đến Quảng trường Cộng hòa, tôi sẽ không nói đó là một cuộc biểu tình—mà là một buổi diễn nhạc rock.

Từ vị trí đứng bên rìa quảng trường, tôi cố gắng giải thích cho những người bạn Ai Cập vì sao mình lại yêu thích Rimtutituki—một ban nhạc có cái tên “rất âm nhạc”, nếu dịch nôm na thì khá sốc: “Tôi đút dương vật vào bạn”. Tôi chỉ mong rằng ba, bốn người phụ nữ trong nhóm, đang đội khăn trùm đầu hijab—trang phục truyền thống của những phụ nữ Hồi giáo mộ đạo—sẽ không cảm thấy quá ngượng ngùng. Năm 1992, họ là thứ “ngầu” nhất thành phố: một nhóm những chàng trai ồn ào với guitar điện và những ca từ ngông cuồng, nổi loạn. Vì thế, khi ban nhạc thông báo sẽ có một buổi biểu diễn miễn phí hiếm hoi, tôi và đám bạn lập tức bỏ học, kéo nhau đến Quảng trường Cộng hòa để tận mắt xem thần tượng của mình trình diễn.

Sự kiện diễn ra sau đó khiến chúng tôi sững sờ. Thay vì mang đến một màn trình diễn vui nhộn quen thuộc, các thành viên của Rimtutituki xuất hiện ở quảng trường trên nóc một chiếc xe tải, trông chẳng khác gì những vị tướng ra trận hơn là những nhạc sĩ punk. Khi chiếc xe chầm chậm chạy vòng quanh, họ cất lên những ca khúc nổi tiếng nhất của mình, với những lời ca như: “Nếu tôi bắn, tôi sẽ chẳng còn thời gian để yêu” hay “Dưới chiếc mũ sắt ấy không có não”. Bạn không cần phải là thiên tài để hiểu điều gì đang diễn ra: chiến tranh vẫn khốc liệt, Belgrade ngập tràn binh lính, xe tăng nối nhau tiến ra tiền tuyến. Và ngay giữa khung cảnh đó, những chàng trai trong ban nhạc punk lại công khai chế giễu chủ nghĩa quân phiệt, lên tiếng phản đối chiến tranh, và bảo vệ khát vọng về một cuộc sống bình thường, hạnh phúc. Tất cả diễn ra ngay trong lòng một chế độ độc tài—nơi chỉ cần hô vang những khẩu hiệu như vậy giữa chốn công cộng cũng có thể khiến bạn phải trả giá đắt.

Khi chạy theo chiếc xe tải, vừa cổ vũ những nhạc sĩ mình yêu thích, tôi đã trải qua một chuỗi khoảnh khắc như bừng tỉnh. Tôi nhận ra rằng đấu tranh không nhất thiết phải khô khan, tẻ nhạt; ngược lại, nó thậm chí có thể hiệu quả hơn khi mang dáng dấp của một buổi trình diễn punk đầy năng lượng, thay vì một cuộc biểu tình cứng nhắc. Tôi cũng hiểu rằng, ngay cả trong những hoàn cảnh tưởng chừng u ám nhất, người ta vẫn có thể khơi dậy sự quan tâm. Và khi đủ nhiều người quan tâm, khi đủ nhiều người cùng hành động, thì thay đổi là điều không thể tránh khỏi. Dĩ nhiên, lúc đó tôi chưa thực sự hiểu hết mọi thứ—phải mất nhiều năm sau tôi mới có thể suy ngẫm thấu đáo về những cảm xúc của buổi chiều hôm ấy tại Quảng trường Cộng hòa, và chuyển hóa chúng thành hành động cụ thể. Nhưng một khi đã chứng kiến sức hấp dẫn và khả năng thành công của đấu tranh phi bạo lực, thì không còn cách nào quay lại trạng thái thờ ơ như trước. Từ đó, tôi và bạn bè cảm thấy mình phải làm một điều gì đó—phải hành động để lật đổ Milošević.

Và phải thừa nhận rằng, chính Milošević đã không ngừng cung cấp cho chúng tôi thêm những lý do để phẫn nộ. Năm 1996, ông ta từ chối công nhận kết quả bầu cử quốc hội—cuộc bầu cử lẽ ra sẽ gạt bỏ nhiều tay sai của mình và đưa các thành viên phe đối lập vào vị trí thay thế. Khi các nhà hoạt động xuống đường phản đối, họ lập tức bị lực lượng cảnh sát của ông ta đàn áp. Đến năm 1998, Milošević tiến thêm một bước dài về phía chế độ toàn trị, khi tuyên bố chính phủ sẽ kiểm soát toàn diện mọi hoạt động của sáu trường đại học ở Serbia, từ học thuật đến hành chính. Điều đó đã vượt quá sức chịu đựng của tôi và bạn bè. Trong những căn hộ chật chội, ám khói thuốc ở Belgrade, chúng tôi tụ họp lại—và đi đến một quyết định: phải khởi sự một phong trào.

Chúng tôi gọi phong trào ấy là Otpor!—nghĩa là “kháng cự”. Và chúng tôi tạo cho nó một biểu tượng: nắm đấm đen, vừa đơn giản vừa đầy biểu cảm, toát lên tinh thần phản kháng và khát vọng thay đổi xã hội. Hình ảnh ấy không xa lạ—nó từng được sử dụng bởi nhiều phong trào trong lịch sử, từ những đội du kích chống phát xít Đức ở Nam Tư thời Thế chiến II cho đến nhóm Black Panthers những năm 1960. Còn với Otpor!, nắm đấm ấy lại bắt nguồn từ một điều rất đời thường: một bản vẽ nguệch ngoạc của người bạn thân nhất của tôi, Duda Petrovic, trên một mẩu giấy vụn—chỉ với hy vọng gây ấn tượng với một cô gái trong phong trào. Thật tình cờ, nhưng cũng thật hoàn hảo: táo bạo, giản dị, và đầy sức mạnh.

Tôi nói với những người bạn Ai Cập của mình rằng, tất cả những bàn tán về logo này nghe có vẻ hời hợt, nhưng việc xây dựng thương hiệu là rất quan trọng đối với chúng tôi. Cũng giống như mọi người trên khắp thế giới khi nhìn thấy biểu tượng đỏ trắng và ngay lập tức nhận ra Coca-Cola, chúng tôi muốn người Serbia có một hình ảnh trực quan mà họ có thể liên tưởng đến phong trào của chúng tôi. Hơn nữa, vào thời điểm đó, chúng tôi nhận ra quá rõ rằng, ngay cả khi chúng tôi cầu xin tất cả bạn bè và người thân đến ủng hộ phong trào của mình, chúng tôi có lẽ cũng không thể có được hơn ba mươi người tham gia cuộc tuần hành. Tuy nhiên, chúng tôi có thể phun sơn ba trăm nắm đấm trong một buổi tối, và một buổi sáng đầu tháng Mười Một, người dân Belgrade thức dậy và phát hiện ra Quảng trường Cộng hòa đã bị bao phủ bởi những nắm đấm. Vào thời điểm đó, khi mọi người đều khiếp sợ Milošević, sự kiện này đã cho mọi người cảm giác rằng một điều gì đó lớn lao và được tổ chức bài bản đang ẩn nấp ngay bên dưới bề mặt.

Và chẳng bao lâu sau, chuyện đó đã xảy ra.

Nhìn thấy nắm đấm và từ “kháng cự” được dán khắp nơi, giới trẻ tự nhiên muốn tìm hiểu thêm về trào lưu mới mẻ, và thời thượng này. Họ muốn tham gia. Để loại bỏ những kẻ giả tạo, những kẻ lừa đảo, và tệ nhất là những kẻ có khả năng làm người cung cấp thông tin cho cảnh sát, chúng tôi đã cho họ một bài kiểm tra: để chứng minh rằng họ nghiêm túc, chính họ phải ra ngoài và phun sơn biểu tượng nắm đấm ở những địa điểm được chọn. Chẳng mấy chốc, chúng tôi không chỉ phủ kín thành phố bằng biểu tượng của mình mà còn tuyển mộ được một nhóm nhỏ những người tận tâm, sẵn sàng tin rằng thay đổi chế độ là khả thi.

Sau khi tuyển mộ được nhóm nòng cốt này, thì cũng là lúc đưa ra một số quyết định quan trọng về kiểu phong trào mà chúng tôi muốn trở thành. Đầu tiên rõ ràng là, chúng tôi sẽ là phong trào hoàn toàn phi bạo lực, không chỉ vì chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ vào các giải pháp hòa bình, mà còn vì việc dùng vũ lực chống lại một người có hàng chục nghìn cảnh sát, hàng trăm nghìn lính và nắm trong tay không biết bao nhiêu những tên côn đồ dường như là một ý tưởng rất tồi. Chúng tôi không bao giờ có thể đánh bại Milošević; nhưng chúng tôi có thể cố gắng xây dựng một phong trào mạnh mẽ và phổ biến đến mức ông ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc khuất phục, chấp nhận một cuộc bầu cử công khai và tự do, và sẽ bị đánh bại ngay lập tức.

Quyết định quan trọng khác mà chúng tôi đưa ra là Otpor! sẽ không phải là phong trào tập trung vào các nhà lãnh đạo có sức lôi cuốn quần chúng. Đó, một phần, là suy nghĩ có tính thực tế: ngay khi chúng tôi trở thành phong trào lớn mạnh, chúng tôi nhận thức rằng, cảnh sát sẽ tấn công chúng tôi bằng tất cả sức mạnh của họ, và phong trào không có những người lãnh đạo dễ dàng được nhận diện sẽ khó bị chính quyền trấn áp trong một lần ra tay. Theo logic lúc đó, cứ một người trong chúng tôi bị bắt, thì mười lăm người khác sẽ thay thế. Nhưng để không ai nhận ra mình, chúng tôi phải hoạt động bí mật. Chúng tôi cần khơi mào một loạt các cuộc đối đầu không lớn và mang tính sáng tạo với chế độ. Chúng tôi muốn nắm bắt khoảnh khắc mà Rimtutituki đã tạo ra, cảm giác đặc biệt và đầy hy vọng rằng kháng cự không phải là vô ích và chiến thắng là nằm trong tầm tay.

Chỉ tay về phía góc xa của quảng trường, tôi đề nghị các bạn Ai Cập này nhìn vào khu phức hợp mua sắm cũ kỹ và bỏ hoang từ những năm 1980 ngay phía sau bến taxi, nơi hoàn toàn không có kính đen phủ kín. Đó là nơi mà ngày 15 tháng 12 năm 1998, tôi đã bị lực lượng an ninh của Milošević bắt giữ. Đó là một buổi sáng rất lạnh. Otpor! đã tồn tại được ba tháng, và chúng tôi đã tập hợp đủ người ủng hộ và tạo được đủ ảnh hưởng để tổ chức một cuộc biểu tình nhỏ, cách Quảng trường Cộng hòa không xa. Tôi chưa bao giờ đến được đó. Khi tôi đang trên đường đến điểm hẹn, thì có vài cảnh sát bất ngờ tấn công tôi và lôi tôi đến một phòng giam bẩn thỉu chỉ cách đó vài phút đi bộ, họ thỏa sức đánh đập tôi trong một khoảng thời gian dường như là vô tận. May mắn thay, những lớp áo len dày tôi đang mặc đã phần nào làm dịu bớt các cú đá từ những đôi ủng nặng nề của họ. Cuối cùng, cảnh sát cũng thả tôi ra — nhưng chỉ sau khi một người dí súng vào miệng tôi và lạnh lùng nói rằng hắn ước gì chúng tôi đang ở Iraq, để có thể bắn chết tôi ngay tại chỗ.

Những người bạn Ai Cập bắt đầu chăm chú hơn. Câu chuyện về đòn roi và nòng súng khiến họ nhớ về quê hương, về lực lượng an ninh khét tiếng tàn bạo dưới thời Mubarak. Ít ra, chúng tôi — những người Serbia — cũng từng trải qua những điều tương tự. Trong số họ có một người trí thức, dáng mảnh khảnh, đeo kính gọng kim loại. Cảnh sát mật của Mubarak vốn đặc biệt thù địch với sinh viên, và chỉ cần nhìn phản ứng của ông, tôi biết ông hẳn đã từng nếm trải những điều tương tự. Nhìn thẳng vào ông, tôi tiếp tục kể về hành trình vươn lên của Otpor!, và về một điều bất ngờ dần xảy ra khi chúng tôi trở nên nổi tiếng hơn: cảnh sát càng cố gắng xua đuổi chúng tôi khỏi Quảng trường Cộng hòa, chúng tôi lại càng quay trở lại nhiều hơn.

Biểu tượng Otpor! trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Những cuộc tụ tập vốn nhỏ lẻ của chúng tôi dần biến thành những bữa tiệc sôi động nhất thành phố — nếu bạn không có mặt, coi như bạn tự tách mình khỏi đời sống xã hội. Và dĩ nhiên, chẳng ai “ngầu” hơn những người sẵn sàng để mình bị bắt. Bị đưa vào đồn, vào trại giam đồng nghĩa với việc bạn đủ táo bạo, đủ gan lì — mà điều đó thì luôn đi kèm với một sức hút rất riêng. Chỉ trong vài tuần, ngay cả những “mọt sách” chính hiệu nhất — kiểu người cài bút trong túi áo, luôn mang theo máy tính bỏ túi và tự hào vì điều đó — cũng có thể bị tống lên xe cảnh sát vào một buổi tối, rồi hôm sau lại xuất hiện trong một buổi hẹn hò với những cô gái nổi bật nhất lớp.

Đến đoạn này của câu chuyện, tôi cảm nhận rõ sự hoài nghi âm thầm từ những người bạn Ai Cập. Tôi dừng lại, quay sang người trí thức đeo kính và hỏi liệu ở quê nhà của ông có diễn ra điều tương tự không. Không chút do dự, ông trả lời là không. Ở Cairo, ông nói với giọng đầy chắc chắn, không ai muốn đứng về phía đối đầu với cảnh sát mật của Mubarak. Ông nói đúng: ngay cả những kẻ thực thi luật lệ tàn bạo nhất dưới thời Milošević, khi đem so với lính canh trong các nhà tù của Mubarak, thì cũng còn “hiền” như bà tiên. Nhưng điều đang diễn ra ở Quảng trường Cộng hòa lại tuân theo một nguyên tắc phổ quát khác — và nó không thực sự liên quan đến việc lực lượng an ninh của ai tàn bạo hơn. Điều tôi muốn những người bạn Ai Cập hiểu thì đơn giản hơn nhiều, nhưng cũng cấp tiến hơn nhiều: tôi muốn họ hiểu về sức mạnh của hài kịch.

Chẳng hạn, người ta thường viện dẫn Mahatma Gandhi hay Martin Luther King Jr. như những nguồn cảm hứng. Nhưng dù họ có vô vàn phẩm chất đáng kính, thì đơn giản là họ không hài hước theo cách mà chúng tôi cần.

Nếu bạn muốn tạo ra một phong trào quần chúng trong thời gian ngắn — nhất là trong thời đại Internet với vô số thứ gây xao nhãng — thì hài hước không phải là “phụ gia”, mà là một chiến lược cốt lõi. Vì thế, khi chậm rãi bước qua Quảng trường Cộng hòa, tôi kể cho những người bạn Ai Cập nghe cách mà phong trào Otpor! đã tận dụng các màn kịch đường phố. Chúng tôi không làm gì quá nặng tính chính trị — bởi chính trị thường khô khan — mà cố gắng giữ mọi thứ vui vẻ, và quan trọng hơn, thật hài hước. Tôi nói với họ rằng, trong những ngày đầu của Otpor!, tiếng cười chính là vũ khí mạnh nhất của chúng tôi để đối đầu với chế độ. Xét cho cùng, chế độ độc tài của Slobodan Milošević được nuôi dưỡng bằng nỗi sợ: sợ hàng xóm, sợ bị theo dõi, sợ cảnh sát, sợ đủ mọi thứ. Nhưng chính trong bầu không khí sợ hãi ấy, người Serbia chúng tôi học được rằng cách hiệu quả nhất để chống lại nỗi sợ là tiếng cười. Nếu bạn chưa tin, hãy thử nghĩ đến việc trấn an một người bạn sắp bước vào một ca phẫu thuật lớn: nếu bạn tỏ ra nghiêm trọng và lo lắng, anh ta sẽ càng thêm bất an. Nhưng nếu bạn kể một câu chuyện hài, bầu không khí lập tức dịu lại — anh ta có thể thả lỏng, thậm chí mỉm cười. Nguyên tắc ấy cũng đúng với các phong trào.

Vậy làm thế nào để biến một thực tại khủng khiếp như đời sống dưới chế độ độc tài thành thứ có thể khiến người ta bật cười? Đó chính là phần thú vị nhất khi khởi xướng một phong trào. Lấy cảm hứng từ Monty Python, tôi và bạn bè đã cùng nhau suy nghĩ, thử nghiệm và tìm cách nghĩ ra những hình thức hành động vừa tích cực, vừa sáng tạo, lại dễ nhớ — nhằm tạo ra hiệu ứng mạnh nhất. Chẳng hạn, trong một cuộc biểu tình chống lại Slobodan Milošević, các nhà hoạt động của Otpor! tại thị trấn Kragujevac đã nghĩ ra một ý tưởng không ai ngờ tới. Họ lấy những bông hoa trắng — biểu tượng gắn với người vợ bị công chúng khinh miệt của nhà độc tài, người luôn cài một bông hoa nhựa trên tóc — rồi gắn chúng lên đầu… những con gà tây. Trớ trêu thay, trong tiếng Serbia, tên loài chim này cũng là một trong những cách xúc phạm nặng nề nhất dành cho phụ nữ. Sau đó, “đội quân gà tây” được thả tự do giữa đường phố. Và thế là, cả thành phố được chứng kiến một màn trình diễn không thể hài hước hơn: những cảnh sát vốn nổi tiếng hung hăng phải chạy vòng quanh, vấp lên vấp xuống, lóng ngóng đuổi theo những con gà đang tản ra và kêu quang quác khắp nơi. Điều tuyệt vời là cảnh sát gần như không có lựa chọn nào khác. Nếu để mặc đàn gà chạy tự do, họ sẽ vô tình phát đi tín hiệu rằng sự bất tuân của Otpor! có thể được dung thứ. Nhưng một khi bạn đã thấy một viên cảnh sát lực lưỡng đuổi theo một con gà tây như nhân vật trong phim hoạt hình cổ điển, liệu bạn còn có thể sợ anh ta nữa không? Đó chính là sức mạnh của tư duy sáng tạo: biến lực lượng an ninh thành trò cười ngay giữa phố, trước mắt những người đang đi làm buổi sáng và cả các nhà báo kéo đến chụp ảnh. Và tất cả những gì cần, đôi khi chỉ là một chuyến đi đến trại gia cầm — cùng một chút trí tưởng tượng.

Tuy nhiên, theo thời gian, khi tôi kể thêm về những trải nghiệm của Otpor!, tôi nhận ra sự hoài nghi dần hiện rõ trong ánh mắt của những người bạn Ai Cập. Những nhà hoạt động sùng đạo hơn bắt đầu âm thầm so sánh, ghi lại những điều họ thấy ở Belgrade nhưng hoàn toàn không tồn tại ở Cairo. Chẳng hạn, ở Cairo, quán cà phê là không gian của những người đàn ông lớn tuổi ngồi nhâm nhi trà và hút shisha — chứ không phải nơi các cô gái mặc áo hai dây, quần short ngắn thoải mái uống bia cùng bạn trai giữa chốn công cộng. Với những người Ai Cập sùng đạo này, Quảng trường Cộng hòa dường như thuộc về một thế giới rất xa lạ. Trong mắt họ, những câu chuyện tôi kể — về các ban nhạc punk rock, những con gà tây chạy loạn trên phố, và đám đông vừa cười vừa thách thức cảnh sát — nghe chẳng khác nào một giấc mơ khó có thể trở thành hiện thực.

Khi bước dọc theo con phố mua sắm chính cạnh quảng trường, chúng tôi đi qua những dãy nhà cổ kính tuyệt đẹp từ thế kỷ XIX — dấu ấn còn lại của thời Đế quốc Áo–Hung cai trị Belgrade. Những mái vòm uốn cong, những hàng cột vững chãi và ban công sắt chạm trổ tinh xảo dường như đồng loạt gửi đi một thông điệp trong tâm trí những người bạn Ai Cập: đây là châu Âu, và những gì diễn ra ở đây khó có thể lặp lại nơi quê hương họ bên dòng Nile. Tôi không hề ngạc nhiên trước những hoài nghi ấy. Tôi từng gặp tình huống tương tự với nhiều nhà hoạt động khác tìm đến Serbia để xin lời khuyên. Họ vượt quãng đường dài để gặp chúng tôi — những “cựu binh” của Otpor! — rồi cuối cùng lại được nghe những câu chuyện về các trò đùa tưởng chừng đơn giản. Và lúc đó, tôi có thể cảm nhận rõ rằng những người bạn Ai Cập này bắt đầu tự hỏi: liệu những “trò đùa” ấy có thực sự dành cho họ hay không.

Dẫu vậy, rõ ràng họ vẫn được truyền cảm hứng, ít nhất là từ một vài câu chuyện về những cuộc biểu tình từng diễn ra ở Quảng trường Cộng hòa. Có lẽ vì quá bức bối, hoặc đơn giản là không kìm nén được nữa, một người bạn Ai Cập bất ngờ cất tiếng hô vang những khẩu hiệu chính trị giữa đám đông ken đặc — giữa khách ngồi quán cà phê và dòng du khách qua lại.

“Ai Cập tự do!”, anh ta đột nhiên hét lên. “Ai Cập tự do! Đả đảo Mubarak!”

Mặt đỏ bừng, anh ta gào đến khản cổ — và chỉ trong vài giây, cả nhóm bạn Ai Cập đã đồng loạt hô theo. Ít nhất, lúc ấy họ như được tiếp thêm năng lượng, tôi thầm nghĩ; họ đang tận hưởng cảm giác tự do, được là chính mình trong một cuộc biểu tình tự phát — điều gần như không thể xảy ra ở Cairo.

Sự ồn ào của chúng tôi khiến vài người xung quanh ngạc nhiên, và một vài cảnh sát tiến lại, lịch sự hỏi xem mọi chuyện có ổn không. Họ tỏ ra bối rối trước nhóm bạn của tôi — cũng giống như chính những người bạn Ai Cập này trước đó đã bối rối khi quan sát chúng tôi.

Nhưng đây mới chỉ là ngày đầu tiên, nên tôi cố không để sự chững lại của cả nhóm làm mình nao núng. Họ cần thời gian để thích nghi, tôi tự nhủ. Hơn nữa, cách Otpor! vận động quần chúng vốn rất khác với hình ảnh quen thuộc về những “nhà cách mạng”. Chúng tôi không mang vẻ mặt khắc khổ như Vladimir Lenin hay Karl Marx, và chắc chắn chúng tôi cũng bác bỏ mọi thứ nhuốm màu bạo lực mà Mao Zedong hay Yasser Arafat từng cổ xúy. Với những người bạn Ai Cập này, đó là một thế giới hoàn toàn mới — và có lẽ, họ chỉ cần thời gian để làm quen. Trong những tuần huấn luyện tiếp theo, chúng tôi đã đặt phòng tại một khách sạn gần Hồ Palić. Những ngày sắp tới sẽ trôi qua giữa khung cảnh thanh bình đến ngỡ ngàng — gần như mang dáng dấp Thụy Sĩ giữa lòng Serbia — với những ngôi nhà gỗ chạm khắc tinh xảo, mái hiên uốn lượn, sơn những gam màu phấn dịu nhẹ, như bước ra từ một câu chuyện cổ tích.

Ngày hôm sau, chúng tôi bắt đầu buổi hội thảo với các bạn Ai Cập trong phòng hội nghị của một khách sạn nhỏ bên bờ hồ. Căn phòng chẳng có gì đặc biệt — nhưng điều đó cũng không quan trọng. Chúng tôi không đến đây để tận hưởng tiện nghi. Trước khi bắt đầu, cả nhóm cùng thưởng thức một bữa sáng đậm chất Serbia với bánh ngọt phô mai và sữa chua. Ăn xong, mười lăm người Ai Cập bước ra ngoài — và chỉ trong chớp mắt, vài gói thuốc lá đã bị hút sạch. Tôi mỉm cười: thời còn tham gia phong trào Otpor!, tôi cũng từng nghiện thuốc nặng, mỗi ngày hút cả chục điếu, như một cách để chịu đựng áp lực khi đứng lên đối đầu với chế độ. Khi họ quay trở lại, chúng tôi kéo kín rèm cửa sổ và bắt đầu làm việc. Bên ngoài, người ta đang nô đùa dưới hồ bơi, trò chuyện rôm rả trên sân thượng và gọi những cây kem ốc quế mát lạnh. Nhưng trong căn phòng này, chúng tôi nói về cách mạng.

Tôi đứng trước các bạn Ai Cập, lúc này đang ngồi thành hình bán nguyệt xung quanh. Tôi mở đầu bằng cách hỏi họ nghĩ gì về chuyến ghé thăm Quảng trường Cộng hòa hôm trước, và về những câu chuyện họ vừa nghe liên quan đến Cách mạng Serbia. Tôi muốn biết họ thực sự cảm nhận thế nào về phương thức kháng cự phi bạo lực mà chúng tôi từng sử dụng để đối đầu với Slobodan Milošević — và giờ đây đang đề xuất để họ áp dụng tại Ai Cập.

Gần như ngay lập tức, một cánh tay giơ lên. Đó là Mohammed Adel — một người đàn ông hiền lành, dáng vẻ có phần giống một chú gấu bông, và là một trong những lãnh đạo của phong trào Ngày 6 tháng 4, nhóm phi bạo lực được tổ chức bài bản nhất ở Cairo. Dù có một phiên dịch hỗ trợ bằng tiếng Ả Rập — ngôn ngữ mà không ai trong chúng tôi thông thạo — nhưng thực ra chúng tôi gần như không cần đến anh ta để hiểu Mohammed sắp nói gì. Ngay khi anh vừa mở lời, tôi đã thấy Sandra — đồng nghiệp của tôi, ngồi cách đó vài hàng ghế — mỉm cười. Cô ấy đã dành cả ngày đi cùng nhóm bạn Ai Cập ở Belgrade, và đã làm công việc này đủ lâu để biết chính xác điều gì sắp diễn ra.

“Srdja,” Mohammed nói thẳng, “chúng tôi đều ấn tượng với những gì đã diễn ra ở Serbia. Nhưng Ai Cập rất khác. Những điều đó sẽ không bao giờ xảy ra ở đó.”

Chúng tôi không hề nao núng trước sự bi quan ấy. “Chuyện đó không thể xảy ra ở đây” gần như luôn là phản ứng đầu tiên — và tôi nói với Mohammed rằng tôi hiểu sự hoài nghi của anh. Tôi kể với anh rằng các nhà hoạt động phi bạo lực ở Georgia cũng từng nói y như vậy, khi một nhóm thanh niên Serbia đến Tbilisi gặp họ — ngay trước khi họ lật đổ chế độ độc tài trong Cuộc Cách mạng Hoa hồng (Rose Revolution), bằng chính những phương pháp mà Otpor! đã sử dụng. Tôi cũng từng nghe những lo ngại tương tự ở Ukraine trước khi Leonid Kuchma bị lật đổ trong Cuộc Cách mạng Cam (Orange Revolution). Rồi một năm sau đó ở Lebanon, vào thời điểm ngay trước Cách mạng Tuyết tùng (Cedar Revolution). Và ba năm sau, ở Maldives, nơi các nhà hoạt động dân chủ cuối cùng cũng lật đổ nhà cầm quyền độc tài của mình. Tất cả những cuộc cách mạng ấy đều đã thành công. Và điều đáng chú ý là: tất cả đều bắt đầu từ cùng một nhận định — rằng những gì đã xảy ra ở Serbia thì sẽ không bao giờ có thể xảy ra ở chính đất nước họ.

“Nhưng với tất cả sự tôn trọng,” một phụ nữ trẻ người Ai Cập cắt lời. Tư thế của cô cho thấy rõ cô không hề bị thuyết phục bởi những gì chúng tôi vừa nói. “Anh nói về các buổi hòa nhạc và biểu tình. Nếu chúng tôi làm bất cứ điều gì tương tự, Mubarak sẽ khiến chúng tôi ‘biến mất’ ngay lập tức. Chúng tôi thậm chí không thể tụ tập quá ba người. Đó là lý do vì sao phương pháp của anh sẽ không hiệu quả ở Ai Cập. Mọi thứ hoàn toàn khác.”

Tôi gật đầu, rồi nói với cô rằng lực lượng mật vụ của Mubarak — Mukhabarat — quả thực là một trong những bộ máy đàn áp khét tiếng nhất thế giới. Nhưng ở Chile dưới thời Augusto Pinochet vào những năm 1970, người dân cũng bị bắt ngay giữa đường phố và bị đưa vào các nhà tù bí mật, chẳng khác gì ở Ai Cập.

Thế nhưng, thay vì tràn ra đường biểu tình, họ chọn một cách khác: khuyến khích các tài xế taxi chỉ chạy với một nửa tốc độ bình thường. “Hãy tưởng tượng,” tôi nói với cô gái trẻ, “bạn thức dậy ở Santiago, bước ra ngoài mua vài chiếc bánh gối (empanada), và bỗng nhiên nhận ra tất cả taxi đều bò đi chậm như rùa.” Rồi hiện tượng ấy lan rộng — không chỉ taxi, mà cả ô tô, xe buýt, xe tải, tất cả đều di chuyển với tốc độ mười dặm một giờ, như một cách thể hiện sự bất mãn với chế độ. Chỉ vài ngày sau, ngay cả người đi bộ trên vỉa hè cũng bước chậm lại một nửa. Thành phố gần như ngừng chuyển động.

Tôi giải thích rằng, trước khi những điều này diễn ra, ai cũng sợ hãi đến mức không dám nói thẳng rằng mình ghét Pinochet. Mỗi người đều có thể nghĩ mình là kẻ duy nhất bất mãn. Nhưng khi nhìn thấy cả xã hội cùng chậm lại — và hiểu rằng đó là một hình thức phản kháng ngầm — bạn sẽ nhận ra một sự thật: ai cũng đang chống lại chế độ. Người Chile thường nói rằng những chiến thuật như vậy giúp họ nhận ra: “chúng ta là đa số, còn họ mới là thiểu số.” Và điều tuyệt vời là, gần như không có rủi ro — bởi vì, ngay cả ở một nơi hà khắc như Bắc Hàn, việc lái xe chậm cũng không phải là phạm pháp. Nghe đến đây, người phụ nữ bật cười lớn. Cô nói rằng một “cuộc biểu tình chạy nửa tốc độ” có lẽ sẽ không hiệu quả ở Cairo — nơi giao thông vốn đã chẳng bao giờ chạy nổi. Nhưng rồi cô cũng thừa nhận: ít nhất, đó là một điều hoàn toàn có thể làm được ở Ai Cập.

Tôi nói rằng, con người ta lúc nào cũng có sẵn một danh sách dài những lý do để giải thích vì sao hoàn cảnh của mình là “đặc biệt” — và vì sao phong trào của mình chắc chắn sẽ thất bại. Đó gần như là phản xạ tự nhiên. Ở Serbia, người ta từng nói với tôi rằng không thể nào chống lại Slobodan Milošević, vì ông ta nắm trong tay quân đội, cảnh sát và toàn bộ hệ thống truyền thông nhà nước. Ở Myanmar, họ bảo rằng văn hóa phục tùng khiến người dân sẽ không bao giờ dám thách thức chính quyền quân sự. Còn khi tôi đến Mỹ, tôi lại nghe những lời than phiền rằng người Mỹ chỉ quan tâm đến việc chất đầy giỏ hàng ở Walmart và chăm chút bãi cỏ trước những ngôi nhà xa hoa của mình. Nhưng rồi sao? Martin Luther King Jr. cũng xuất thân từ nước Mỹ đó. Các nhà sư đã từng dẫn dắt những cuộc biểu tình trên đường phố Yangon. Và ngày nay, Serbia đã trở thành một quốc gia dân chủ.

Tôi nói với những người bạn Ai Cập rằng, bước đầu tiên để xây dựng một phong trào thành công là phải gạt bỏ suy nghĩ rằng những gì đã xảy ra ở nơi khác thì không bao giờ có thể lặp lại ở đất nước mình. Tôi giải thích rằng quan niệm này dựa trên hai giả định — một đúng, một sai. Giả định thứ nhất — và là đúng — là mỗi quốc gia đều có bối cảnh riêng, và một phong trào phi bạo lực ở nước A không thể đơn giản sao chép nguyên xi sang nước B. Tôi thừa nhận rằng, ngay cả trong những điều kiện thuận lợi nhất, tôi cũng không thể huy động nổi một trăm người Serbia xuống đường cùng Mohammed Adel và phong trào Ngày 6 tháng 4 của anh tại Cairo. Tương tự, không ai có thể kỳ vọng một phụ nữ Saudi sẽ áp dụng những phương thức biểu tình của FEMEN ở Ukraine — như việc để ngực trần — trong một cuộc vận động vì bình đẳng giới tại Riyadh.

Những người Ai Cập sùng đạo hẳn sẽ chỉ cười khẩy trước viễn cảnh đó.

Tôi tiếp tục giải thích: nếu giả định thứ nhất — ẩn sau câu “điều đó không bao giờ có thể xảy ra ở đây” — là hợp lý, thì giả định thứ hai lại hoàn toàn sai. Đó là niềm tin rằng một phong trào phi bạo lực không thể thành công trên chính quê hương của bạn. Thực tế, những nguyên tắc đã được vận dụng trong các chiến dịch phi bạo lực — từ thời Mahatma Gandhi cho đến phong trào Otpor! ở Serbia và hàng loạt cuộc cách mạng sau đó — đều mang tính phổ quát. Chúng có thể phát huy hiệu quả ở bất kỳ quốc gia, thành phố, cộng đồng nào, thậm chí trong phạm vi một trường đại học. Tôi nói với các bạn Ai Cập rằng điều quan trọng là phải bắt đầu từ những việc nhỏ — phù hợp với bối cảnh, nhưng hoàn toàn khả thi; những hành động không khiến bạn bị đánh đập hay trả giá quá đắt. Tôi nhắc họ rằng, trong những ngày đầu của Otpor!, việc đầu tiên chúng tôi làm chỉ đơn giản là chọn hình nắm đấm siết chặt làm biểu tượng. Khi các thành viên đến thăm nhau, chúng tôi dán những miếng sticker in hình nắm đấm trong thang máy các tòa nhà. Đó là một chiến thuật đơn giản — và tôi giải thích với họ rằng, đây chính là kiểu hành động mà họ hoàn toàn có thể áp dụng ở Ai Cập.

Một thanh niên Ai Cập vạm vỡ ngắt lời tôi và nói: “Tôi không hiểu làm thế nào mà những miếng dán lại có thể lật đổ Mubarak”. 

Tôi nhìn vào ánh mắt của những người bạn Ai Cập và biết rằng phần lớn trong số họ đang cùng tự hỏi một điều. Nhưng rồi tôi để ý thấy vài bao thuốc lá Marlboro còn dở, nằm rải rác trước mặt họ — tàn dư của lần hút sau bữa sáng.

Tôi bèn hỏi: tại sao họ lại chọn loại thuốc này?

Thoạt đầu, chẳng ai hiểu tôi đang muốn dẫn câu chuyện đi đâu.

“Tôi không biết,” một trong những người trí thức nói. “Có lẽ bao bì trông đẹp?”

“Chúng là loại thuốc lá ngon nhất,” anh thanh niên Ai Cập vạm vỡ nói thêm. “Và chúng là hàng Mỹ.”

Tôi nói với anh rằng, anh hút Marlboro không phải ngẫu nhiên — mà vì nhãn hiệu đó mang một ý nghĩa nào đó đối với anh. Có thể là hình ảnh “người đàn ông Marlboro”, có thể là bao bì đỏ đặc trưng, có thể là cảm giác về chất lượng ổn định — hay đơn giản là một sự quen thuộc đã ăn sâu. Khi bước vào cửa hàng, anh đứng trước nhiều lựa chọn, nhưng cuối cùng anh vẫn chọn Marlboro, vì anh tin vào nó. Và một nhà độc tài cũng vận hành theo cách tương tự. Tôi giải thích rằng, mỗi nhà độc tài về bản chất là một “nhãn hiệu”. Thường thì nhãn hiệu đó được khoác lên mình lá quốc kỳ, và gắn liền với một câu chuyện — thường là về “ổn định”. Chẳng hạn, khẩu hiệu nổi tiếng của Augusto Pinochet là: “Tôi — hoặc là hỗn loạn.” Đôi khi, “thương hiệu” ấy còn được xây dựng trên hình ảnh độc lập với Mỹ, Israel hay bất kỳ thế lực bên ngoài nào. Và cũng giống như mọi nhãn hiệu khác, các nhà độc tài luôn khao khát sự chú ý và “thị phần” trong lòng công chúng. Đó là lý do vì sao Hugo Chávez có hẳn một chương trình truyền hình riêng — Aló Presidente — phát sóng hàng giờ liền, nơi ông vừa phát biểu, vừa kể chuyện, thậm chí diễn xuất để kết nối với quần chúng. Những nhà lãnh đạo đầy màu sắc như Chávez, suy cho cùng, cũng không khác gì các thương hiệu: họ “nghiện” sự chú ý, và luôn tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình. Nhưng nếu bạn gạt bỏ lớp vỏ tuyên truyền — những áp phích, khẩu hiệu, và hình ảnh được dàn dựng — thì hầu hết các chế độ độc tài đều được cấu thành từ những “nguyên liệu” rất giống nhau: tham nhũng, gia đình trị, quản lý yếu kém, bất công xã hội, bạo lực và nỗi sợ. Vậy thì câu hỏi thật sự là: tại sao người ta vẫn chấp nhận chúng?

Không ai trả lời được.

Tôi nói rằng, trong một chế độ độc tài, vấn đề nằm ở chỗ: không có “thương hiệu” nào khác để lựa chọn. Nếu Hosni Mubarak giống như một loại “thuốc lá nội địa” tồi tệ, thì người dân cần trở thành một “bao Marlboro” — một lựa chọn tốt hơn, đáng tin hơn. Nói cách khác, họ cần xây dựng một thương hiệu đối lập mạnh hơn thương hiệu của chính quyền. Mà đã là thương hiệu, thì cần quảng bá. Còn quảng bá thì cần biểu tượng. Đó là lý do vì sao hình nắm đấm siết chặt lại đóng vai trò then chốt trong cuộc cách mạng Serbia; và cũng vì sao hoa hồng hay màu cam trở thành những biểu tượng đầy sức mạnh trong các phong trào ở Georgia và Ukraine, khi họ đứng lên chống lại các chế độ hậu Xô Viết. Nếu không xây dựng được một “thương hiệu” như vậy, thì tất cả sự phẫn nộ đang tồn tại rời rạc trong xã hội Ai Cập — từ những công nhân dệt đình công ở Mahalla năm 2008, các nhà báo đòi quyền truy cập Internet không kiểm duyệt ở Cairo, cho đến những thanh niên thất nghiệp bị đánh đập trên đường phố — sẽ không bao giờ hội tụ lại thành một lực lượng đủ mạnh. Và quan trọng hơn, họ sẽ không nhìn thấy kẻ thù chung. Một biểu tượng đủ mạnh sẽ giúp mọi người nhận ra rằng những bất ổn tưởng như riêng lẻ ấy thực ra đều bắt nguồn từ cùng một vấn đề lớn hơn chính họ. Và điều “lớn hơn” đó, tôi nói với những người bạn Ai Cập, phải chính là tầm nhìn mà họ cùng nhau tạo dựng.

Nghe vậy, một bạn nữ Ai Cập khá nhút nhát giơ tay lên.

“Tất cả những câu chuyện này thật tuyệt vời,” cô thừa nhận, “và nếu Chúa muốn, chúng ta sẽ thành công. Nhưng ở đây chỉ có mười lăm người, trong khi chúng ta phải đối mặt với Mubarak — với cảnh sát của ông ta, quân đội của ông ta, đảng của ông ta, với cả một hệ thống. Bạn biết đấy… đôi khi,” cô ngập ngừng, “chúng tôi chỉ là… những con người vô danh.”

Tôi không phải là người sùng đạo. Nhưng nếu phải chọn một “cuốn kinh” của riêng mình, thì đó chắc chắn là Chúa tể của những chiếc nhẫn (The Lord of the Rings). Trong phòng ngủ của tôi luôn có một góc nhỏ dành cho J. R. R. Tolkien. Ngay cả trong những thời khắc đen tối nhất của phong trào Serbia — khi Slobodan Milošević và các chiến dịch thanh lọc sắc tộc đạt đến mức độ điên cuồng, khi mọi thứ xung quanh dường như bị kiểm soát hoàn toàn — tôi vẫn tìm đến cuốn sách cũ ấy và tìm thấy niềm tin trong từng trang. Có một đoạn tôi đặc biệt yêu thích, khi Galadriel nói với Frodo Baggins rằng: “Ngay cả sinh vật nhỏ bé nhất cũng có thể thay đổi dòng chảy của tương lai.”

Tôi lặp lại những lời đó với các bạn Ai Cập — rồi nhắc lại một lần nữa, chậm rãi và rõ ràng hơn. Thật dễ hiểu vì sao họ cảm thấy mình chỉ là những con người vô danh. Ngay từ khi còn nhỏ, chúng ta đã được dạy rằng chỉ những kẻ mạnh và đầy quyền lực mới là người làm nên lịch sử. Báo chí và tạp chí thi nhau tôn vinh những nhân vật giàu có, quyền lực; còn trên truyền hình, các chương trình dường như luôn bị cuốn hút bởi giới tinh hoa — những người được mời vào các studio sang trọng để “định hình thế giới”. Ở phương Tây, văn hóa của chúng ta khởi nguồn từ Iliad — với những hình ảnh bạo lực trần trụi (núm vú bị đâm xuyên bởi giáo mác và mũ sắt nhuốm máu)— và kéo dài cho đến tận hôm nay như một dòng chảy liên tục tôn vinh chiến tranh, anh hùng và chinh phục. Hãy thử nghĩ mà xem: bạn đã xem bao nhiêu bộ phim về Đệ nhị Thế chiến hay Chiến tranh Việt Nam? Chắc chắn là rất nhiều. Nhưng nếu phải kể tên những bộ phim lớn về các phong trào đấu tranh phi bạo lực, thì còn lại bao nhiêu? Có thể kể đến Gandhi với Ben Kingsley, hay Milk với Sean Penn, và thêm một vài bộ phim đầy xúc động về Nelson Mandela. Nhưng nhìn chung… cũng chỉ có vậy.

Chúng ta tôn vinh các chiến binh — nhưng liệu chính họ có thực sự là những người định hình lịch sử? Hãy thử nhìn vào một chuỗi sự kiện: kết cục trực tiếp của Đệ nhất Thế chiến là Đệ nhị Thế chiến; rồi từ đó dẫn đến Chiến tranh Lạnh — kéo theo hàng loạt xung đột như Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Việt Nam, chiến tranh ở Afghanistan, rồi cả “cuộc chiến chống khủng bố”. Một chuỗi dài bạo lực nối tiếp bạo lực. Nhưng thế giới đã nhận được gì từ Martin Luther King Jr.? Đó là quyền dân sự — và cuối cùng là việc nước Mỹ có một tổng thống da đen vào năm 2008. Còn di sản của Mahatma Gandhi là gì? Đó là nền độc lập của Ấn Độ — và sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân. Và Lech Wałęsa — người lãnh đạo phong trào Đoàn kết ở Ba Lan trong những năm 1980 — đã góp phần dẫn đến điều gì? Đó là sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu. Mà Wałęsa là ai? Chỉ là một thợ điện tại xưởng đóng tàu Gdańsk — một con người nhỏ bé, theo đúng nghĩa đen.

Tôi kể với những người bạn Ai Cập về Harvey Milk — nhà lãnh đạo phong trào quyền của người đồng tính đã bị ám sát. Ông là người đồng tính công khai đầu tiên được bầu vào một chức vụ công ở California. Nhưng trước khi quyết định đứng lên thay đổi cách xã hội nhìn nhận về đồng tính luyến ái, ông chỉ là một chủ cửa hàng nhỏ khiêm tốn ở San Francisco. Harvey Milk, theo nghĩa nào đó, cũng chỉ là một con người rất đỗi bình thường. Rồi tôi nhắc đến Jane Jacobs. Khi bà quyết định đối đầu với Robert Moses — người đàn ông quyền lực bậc nhất ở New York City, với kế hoạch xây một tuyến cao tốc xuyên qua các khu phố lịch sử ở trung tâm Manhattan — bà đã bị chế giễu là một bà nội trợ lắm lời, thậm chí là một kẻ “điên rồ”. Thế nhưng chính Jacobs — một người không hề có bằng cấp chính quy về quy hoạch — lại là người sau này làm thay đổi cả cách thế giới nghĩ về đô thị. Và điểm chung của họ là gì? Họ đều bắt đầu như những con người rất nhỏ bé.

Không ai trong số họ xuất thân từ tầng lớp tinh hoa. Và nếu bạn phải chọn người mẫu để tạc tượng đồng đặt giữa quảng trường thành phố, có lẽ bạn cũng sẽ không chọn bất kỳ ai trong số họ. Nhưng chính những con người ấy lại là những người âm thầm đẩy thế giới tiến về phía trước. Không chỉ trong những câu chuyện của Tolkien mà những “người nhỏ bé” mới có thể thay đổi vận mệnh — điều đó cũng đúng ngoài đời thực. Tôi nói với những người bạn Ai Cập như vậy. Điều đó đã từng xảy ra ở Belgrade. Và nó cũng có thể xảy ra ở Ai Cập.

Nghe đến đó, cả căn phòng lặng đi. Tôi không chắc sự im lặng ấy là vì họ đồng tình, hay đơn giản là vì đã quá mệt. Dù sao, cũng đến giờ nghỉ trưa. Trong những buổi làm việc tiếp theo, chúng tôi đi sâu hơn vào các khía cạnh kỹ thuật của việc xây dựng một phong trào cách mạng. Tôi nhấn mạnh với họ về tầm quan trọng của việc lập kế hoạch, sự đoàn kết, và đặc biệt là việc duy trì kỷ luật phi bạo lực ở mọi giai đoạn của chiến dịch. Khi mọi thứ kết thúc, chúng tôi nói lời tạm biệt rồi mỗi người một ngả — tôi trở về Belgrade, còn họ quay lại Cairo.

Khi ấy, tôi không kể điều này với những người bạn Ai Cập. Nhưng đã có một khoảnh khắc, trong cuộc đấu tranh chống lại Slobodan Milošević, khi chính tôi cũng tin rằng thay đổi là điều không thể xảy ra ở Serbia. Tôi nhớ rất rõ. Đêm 23 tháng 4 năm 1999, những cột khói đen cuồn cuộn bốc lên từ trụ sở đài truyền hình quốc gia Serbia, chỉ cách nhà tôi vài dãy phố. Đó là nơi mẹ tôi — Vesna — làm việc, trong một văn phòng mà tôi luôn xem như ngôi nhà thứ hai, nơi tuổi thơ tôi từng chạy nhảy không biết mệt. Tòa nhà ấy, cùng các nhà báo bên trong, đã bị coi là mục tiêu quân sự hợp pháp trong chiến dịch ném bom của NATO nhằm chấm dứt cỗ máy chiến tranh của Milošević. Và chỉ vài giờ sau khi mẹ tôi rời khỏi bàn làm việc hôm đó, trong khoảnh khắc ngắn ngủi, không quân phương Tây đã san phẳng toàn bộ tòa nhà. Mười sáu đồng nghiệp vô tội của bà đã thiệt mạng trong đêm kinh hoàng ấy.

Mẹ tôi đứng bên cạnh tôi trên mái chung cư, run rẩy, cùng nhìn những cột lửa bốc cao xé toạc bầu trời đêm. Bà còn sống chỉ vì hôm đó được phân ca chiều. Còn tôi — khi ấy mới 26 tuổi — đang sống trong cuộc chiến thứ năm kể từ khi vừa tròn 18. Thiết quân luật được ban bố ngay khi NATO bắt đầu chiến dịch ném bom. Tôi bị gán là kẻ phản bội, là kẻ thù của nhà nước. Otpor! buộc phải hoạt động bí mật. Và để đảm bảo an toàn, tôi không còn dám ngủ ở nhà nữa. Đêm hôm đó, ngay cả tôi cũng nghĩ rằng thay đổi sẽ không bao giờ có thể xảy ra ở đất nước này. Nhưng sâu thẳm bên trong, tôi vẫn biết rằng nó phải xảy ra — bởi nếu chúng tôi không chiến thắng, thì sẽ chẳng còn gì để cứu vãn nữa.

Vì vậy, tôi nói với các bạn Ai Cập rằng tôi hiểu cảm giác tuyệt vọng của họ — tôi thực sự đồng cảm. Tôi cũng từng ở trong hoàn cảnh đó. Nhưng nguyên tắc của chúng tôi là không duy trì liên lạc với các nhà hoạt động sau khi quá trình huấn luyện kết thúc. Và với Mohammed Adel cùng những người bạn của anh, chúng tôi cũng không phải ngoại lệ. Một khi họ trở về nước và bắt đầu hành động, chúng tôi gần như không thể giúp thêm được nữa. Mỗi quốc gia là một bối cảnh riêng, và chính các nhà hoạt động địa phương — những người hiểu rõ xã hội của mình — mới biết điều gì thực sự có hiệu quả. Có những thứ không thể “nhập khẩu”. Và tầm nhìn cho tương lai của xã hội bạn chính là một trong số đó. Chỉ có bạn mới có thể xây dựng nó. Vai trò của tôi, cũng như các đồng nghiệp, chỉ đơn giản là chia sẻ những gì đã hiệu quả với chúng tôi trong phong trào Otpor! — những chiến lược, những bài học, những kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều năm. Sau đó, chúng tôi rút lui. Dĩ nhiên, điều đó không ngăn được các nhà lãnh đạo như Mahmoud Ahmadinejad, Vladimir Putin, Hugo Chávez hay Recep Tayyip Erdoğan cáo buộc chúng tôi là “đặc vụ Serbia”, và bất kỳ ai liên hệ với chúng tôi đều bị gán là phản bội hay gián điệp. Trên thực tế, Hugo Chávez thậm chí còn vô tình dành cho chúng tôi một “lời khen” lớn nhất theo cách rất đặc biệt: ông xuất hiện trên truyền hình, cầm một tờ rơi của Otpor! được lưu hành tại Venezuela, và tố cáo chúng tôi là lính đánh thuê đang “đầu độc” sinh viên nước ông. Nhưng thực tế là gì? Chính các sinh viên ấy đã đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức phong trào phản đối dùng các kỹ thuật phi bạo lực và góp phần làm thất bại đề xuất cải cách hiến pháp của Chávez trong cuộc trưng cầu dân ý năm 2007. Nói cách khác, điều mà các nhà độc tài sợ nhất… chính là việc những “con người vô danh” bắt đầu hành động.

Và tôi rất muốn nói rằng mình thường xuyên nghĩ về mười lăm người bạn Ai Cập sau tuần lễ ở hồ Palić. Nhưng mùa hè năm 2009 là một giai đoạn dồn dập, đến mức tôi gần như không có thời gian để ngoái lại. Các cuộc biểu tình đường phố bùng nổ khắp Tehran sau những gì nhiều người cho là gian lận bầu cử trắng trợn, và sự chú ý của tôi nhanh chóng chuyển sang Iran. Mỗi tháng, có gần mười bảy nghìn lượt tải xuống các tài liệu huấn luyện bằng tiếng Farsi của chúng tôi từ các địa chỉ trong nước Cộng hòa Hồi giáo này.

Cùng lúc đó, Saffron Revolution ở Myanmar — được châm ngòi sau khi một nhà sư Phật giáo xem được một đĩa DVD về phong trào Otpor! mà ai đó đã bí mật đưa vào tu viện — cũng đang bước sang năm thứ hai.

Thực ra, giữa tất cả những biến động dồn dập ấy, phải gần một năm rưỡi sau người ta mới nhắc tôi về Mohammed Adel và những người bạn của anh. Nhưng khoảnh khắc đó — tôi sẽ không bao giờ quên. Cuối tháng 4 năm 2010, vào một buổi sáng mùa xuân đẹp trời, tôi vội vã rời khỏi căn hộ. Tôi chỉ muốn đi mua thuốc lá, và không có tâm trạng để ý đến xung quanh. Tay đút túi, đầu cúi thấp, tôi băng qua đường như mọi ngày. Đứng trước quầy, khi đang lướt mắt tìm nhãn hiệu quen thuộc, tôi chợt khựng lại. Trang nhất của một trong những tờ báo lớn nhất Serbia đập vào mắt tôi. Và rồi… tôi chết lặng. Tôi không thể cử động. Không thể rời mắt. Nó ở ngay đó. Một nắm đấm siết chặt — to, đậm, quen thuộc — hiện lên trong bức ảnh một người đang giơ cao tấm biển. Không thể nhầm lẫn được. Đó chính là biểu tượng của Otpor!, đúng với thiết kế mà Duda từng vẽ nguệch ngoạc từ nhiều năm trước. Trong đời, có lẽ tôi đã nhìn thấy hàng triệu hình nắm đấm như thế. Nhưng chưa bao giờ… có một cái nào giống như lần này.

Người phụ nữ trong ảnh đội khăn trùm đầu. Và dòng chữ trên tấm biển ghi:

“Nắm đấm làm rung chuyển Cairo!”

Tôi biết ngay.

Lần này… nó sắp xảy ra rồi.