Tác giả: Luật sư Đặng Đình Mạnh
Cuộc hải chiến Hoàng Sa Tháng Một năm 1974, trong đó Hải quân Trung Quốc sử dụng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa do Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý, không chỉ là một biến cố quân sự trong lịch sử khu vực. Dưới góc nhìn của công pháp quốc tế, đó là một hành vi xâm chiếm lãnh thổ bằng vũ lực, bị cấm tuyệt đối và không thể tạo ra quyền sở hữu lãnh thổ hợp pháp, dù kéo dài bao lâu.
NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CÔNG PHÁP QUỐC TẾ: CẤM THỤ ĐẮC LÃNH THỔ BẰNG VŨ LỰC
Tham chiếu theo Điều 2 khoản 4 Hiến chương Liên Hợp Quốc đã minh định rõ: “Tất cả các quốc gia thành viên phải kiềm chế trong quan hệ quốc tế, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào.”
Nguyên tắc này đã trở thành quy định luật pháp quốc tế mang tính mệnh lệnh (jus cogens). Hệ quả pháp lý trực tiếp là: Mọi sự thụ đắc lãnh thổ phát sinh từ việc sử dụng vũ lực đều vô hiệu.
Với thời gian, nguyên tắc này được tái khẳng định nhất quán trong:
- Nghị quyết 2625 (1970) của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
- Án lệ của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ)
- Thực tiễn quốc tế hậu Thế chiến II
Do đó, việc Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 đã vi phạm trực tiếp công pháp quốc tế
HOÀNG SA KHÔNG PHẢI “HOANG ĐẢO VÔ CHỦ” (TERRA NULLIUS)
Vẫn tham chiếu theo công pháp quốc tế, có hai trường hợp để một quốc gia có thể thụ đắc lãnh thổ, bao gồm:
- Chưa từng thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào, hoặc
- Bị quốc gia có chủ quyền từ bỏ một cách rõ ràng và dứt khoát.
Thời điểm năm 1974, khi Trung Quốc phát động cuộc tấn công tiến chiếm đảo, thì Hoàng Sa không đáp ứng bất kỳ trường hợp nào trong số này.
Trước thời điểm năm 1974, Việt Nam đã:
- Xác lập chủ quyền từ rất sớm (ít nhất từ thế kỷ XVII) thông qua các đội Hoàng Sa – Bắc Hải;
- Thực hiện chiếm hữu thực sự, hòa bình và liên tục – tiêu chuẩn cốt lõi của luật quốc tế;
- Duy trì quản lý hành chính, quân sự và dân sự đối với Hoàng Sa dưới thời Việt Nam Cộng hòa;
- Không có bất kỳ tuyên bố từ bỏ chủ quyền nào, dù trong hoàn cảnh chiến tranh.
Theo án lệ quốc tế (như vụ Island of Palmas, Clipperton Island, Eastern Greenland), việc thực thi thẩm quyền nhà nước thực sự quan trọng hơn tuyên bố suông.
Vì vậy, Hoàng Sa chưa bao giờ là lãnh thổ vô chủ vào thời điểm Trung Quốc tấn công năm 1974. Hơn nữa, với việc phải tiến chiếm đảo bằng vũ lực, càng cho thấy Hoàng Sa đang có sự hiện diện quản lý, điều hành của một nhà nước trên đấy.
HÀNH VI CỦA TRUNG QUỐC NĂM 1974 CÓ PHẢI “TIẾP QUẢN”
Trung Quốc thường lập luận rằng họ “tiếp quản” hoặc “khôi phục” chủ quyền tại Hoàng Sa. Tham chiếu theo công pháp quốc tế, lập luận này không có giá trị pháp lý, vì:
- Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý thực tế Hoàng Sa;
- Trung Quốc sử dụng vũ lực quân sự để chiếm đảo;
- Không tồn tại bất kỳ thỏa thuận quốc tế hợp pháp nào về việc chuyển giao chủ quyền để Trung Quốc có thể “tiếp quản” hoặc “khôi phục”.
Vẫn tham chiếu theo công pháp quốc tế, chiếm đóng bằng vũ lực (belligerent occupation) không làm phát sinh chủ quyền, cho dù Trung Quốc đã:
- Kiểm soát thực tế Hoàng Sa,
- Cơi nới, xây dựng cơ sở hạ tầng về dân sự, thương mại, kể cả quân sự,
- Duy trì sự hiện diện quân sự lâu dài,
Tất cả những điều đó vẫn chỉ là chiếm đóng bất hợp pháp (illegal occupation), tương tự các trường hợp mà cộng đồng quốc tế không công nhận ở nhiều khu vực khác trên thế giới.
THỜI GIAN KHÔNG HỢP THỨC HÓA HÀNH VI PHI PHÁP
Một lập luận thường thấy từ phía Trung Quốc, rằng họ đã quản lý Hoàng Sa “ổn định” từ năm 1974 đến nay. Tuy nhiên, theo công pháp quốc tế, không tồn tại “thời hiệu” cho hành vi xâm chiếm bằng vũ lực. Vì lẽ, theo nguyên tắc ex injuria jus non oritur (quyền không thể phát sinh từ hành vi trái pháp luật) vẫn hiệu lực và được áp dụng tuyệt đối.
Tòa án Công lý Quốc tế ICJ nhiều lần khẳng định, rằng việc chiếm giữ kéo dài không thể chuyển hóa một hành vi bất hợp pháp thành hợp pháp.
Do đó, thời gian không làm thay đổi bản chất pháp lý bất hợp pháp của việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa.
KẾT LUẬN PHÁP LÝ
Từ các nguyên tắc và chuẩn mực của công pháp quốc tế, có thể khẳng định một cách dứt khoát rằng:
- Quần đảo Hoàng Sa không phải lãnh thổ vô chủ, mà là lãnh thổ thuộc chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam.
- Trung Quốc đã chiếm đóng Hoàng Sa bằng vũ lực năm 1974, vi phạm nghiêm trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc.
- Việc chiếm đóng đó không bao giờ có thể tạo ra quyền sở hữu lãnh thổ hợp pháp, dù kéo dài bao lâu.
- Cộng đồng quốc tế, theo công pháp quốc tế, không có nghĩa vụ và không được phép thừa nhận sự thụ đắc lãnh thổ trái luật này.
Nói cách khác, sau 52 năm bị xâm chiếm, Hoàng Sa vẫn thuộc chủ quyền của Việt Nam về mặt pháp lý quốc tế. Sự kiểm soát của Trung Quốc chỉ là một thực trạng cưỡng chiếm bất hợp pháp, chúng không thể hiện chủ quyền.
Đây không chỉ là vấn đề lịch sử, mà là vấn đề công pháp luật quốc tế hiện hữu, và cũng là phép thử đối với trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, rằng liệu vũ lực hay pháp quyền sẽ được coi là nền tảng của quan hệ giữa các quốc gia.
Viết từ Hoa Thịnh Đốn, ngày 15 Tháng Một 2026
