Phong Trào Duy Tân

Đường về nô lệ. Những lời giới thiệu

Tác giả: Friedrich August von Hayek

Dịch giả: Phạm Nguyên Trường

Bản dịch năm 2019, kỉ niệm 75 năm ra đời tác phẩm này.

Tặng những người xã hội chủ nghĩa thuộc mọi đảng phái.

Hiếm có khi tự do, dù ở hình thức nào, lại đột nhiên biến mất.

David Hume

Tôi tin rằng lúc nào tôi cũng yêu tự do; nhưng ở thời đại mà chúng tôi đang sống, tự do là thứ mà tôi nguyện phụng sự.

A. de Tocqueville

NHỮNG LỜI GIỚI THIỆU

Lời giới thiệu của Milton Friedman

(nhân dịp năm mươi năm xuất bản)

Cuốn sách này đã trở thành tác phẩm kinh điển thực sự: đây là cuốn sách dành cho tất cả những ai quan tâm đến chính trị một cách rộng rãi nhất và ít thiên lệch nhất của từ này, thông điệp trung tâm của nó sẽ sống mãi với thời gian và có thể áp dụng cho vô vàn hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Hiện nay, trong chừng mực nào đó, nó còn liên quan đến Hoa Kỳ nhiều hơn cả khi được công bố lần đầu vào năm 1944 và đã gây chấn động dư luận vào lúc đó.

Gần một phần tư thế kỉ trước (năm 1971) tôi đã viết lời giới thiệu cho lần xuất bản cuốn Đường về nô lệ bằng tiếng Đức nhằm minh hoạ tính vĩnh cửu của thông điệp mà Hayek đã gửi tới cho chúng ta. Lời giới thiệu đó cũng có thể được áp dụng cho lần xuất bản kỉ niệm năm mươi năm ra đời tác phẩm kinh điển này của Hayek. Để khỏi phải đạo văn của chính mình, tôi xin trích dẫn toàn bộ bài viết trước khi đưa thêm vào một vài lời bình luận[1].

“Suốt nhiều năm liền, tôi thường hỏi những người tin vào các nguyên tắc của chủ nghĩa cá nhân xem họ đã rời bỏ chủ nghĩa tập thể chính thống của thời đại chúng ta như thế nào. Trong nhiều năm, câu trả lời thường gặp nhất chính là cuốn sách mà tôi đang có vinh dự viết lời giới thiệu này. Tác phẩm xuất sắc và hùng hồn của Giáo sư Hayek là ánh sáng soi đường cho các nam nữ thanh niên từng phục vụ trong các lực lượng vũ trang trong thời gian diễn ra Thế chiến II. Kinh nghiệm vừa trải qua đã giúp họ nâng cao nhận thức về giá trị và ý nghĩa của quyền tự do cá nhân. Ngoài ra, họ đã chứng kiến tổ chức tập thể hoạt động trên thực tế. Đối với họ, những lời dự báo về hậu quả của chủ nghĩa tập thể đã không đơn thuần là khả năng có tính giả thuyết mà là thực tế nhãn tiền mà bản thân họ đã trải qua trong thời gian tại ngũ.

“Đọc lại trước khi viết lời giới thiệu, một lần nữa, tôi lại cảm thấy kinh ngạc trước cuốn sách tuyệt với này: tinh tế và lập luận chặt chẽ song lại dễ hiểu và sáng sủa, đầy triết lý và trừu tượng, song cũng rất cụ thể và thực tế, sâu sắc và đầy lý tính, song cũng rất sinh động bởi những lý tưởng cao cả và một ý thức mạnh mẽ về sứ mệnh. Không có gì ngạc nhiên khi nó gây được ảnh hưởng lớn như vậy. Cuốn sách còn gây ấn tượng mạnh đối với tôi, vì hôm nay thông điệp của nó cũng cần thiết như khi nó xuất hiện lần đầu – chuyện đó nói sau. Nhưng đối với tuổi trẻ thời nay, thông điệp của nó không mang tính trực tiếp hay thuyết phục bằng các nam nữ thanh niên đọc nó khi nó xuất hiện lần đầu. Những vấn đề của chiến tranh và điều chỉnh thời hậu chiến được Hayek dùng minh hoạ cho chủ đề trung tâm bất diệt của ông, cũng như những thuật ngữ của chủ nghĩa tập thể thời đó được ông dùng làm dẫn chứng cho lời khẳng định của ông về bầu không khí trí tuệ vốn là những điều quen thuộc đối với thế hệ thời hậu chiến và đã tạo được mối quan hệ gần gũi giữa tác giả và độc giả của cuốn sách. Ngày nay, những ảo tưởng của chủ nghĩa tập thể tương tự đang lưu truyền rộng rãi và được củng cố thêm, nhưng hậu quả trực tiếp thì có khác, thuật ngữ cũng đã khác nhiều. Hiện nay chúng ta ít nghe nói đến “kế hoạch hoá tập trung”, “sản xuất để tiêu dùng”, nhu cầu “quản lý một cách có ý thức” các nguồn lực xã hội. Thay vào đó là chuyện về khủng hoảng đô thị – người ta nói chỉ có thể giải quyết bằng các chương trình rộng lớn của chính phủ; là chuyện về khủng hoảng môi trường – người ta bảo là do những doanh nhân tham lam, những người phải làm tròn trách nhiệm xã hội chứ không “chỉ” điều hành các doanh nghiệp của mình để kiếm tối đa lợi nhuận và cũng đòi hỏi, như người ta nói, những chương trình rộng lớn của chính phủ; là chuyện về khủng hoảng tiêu dùng – những giá trị giả được kích thích bởi các doanh nhân tham lam nhằm kiếm lợi nhuận thay vì thực hiện trách nhiệm xã hội và dĩ nhiên, cũng cần các chương trình rộng lớn của chính phủ nhằm bảo vệ người tiêu dùng, ít nhất là để anh ta không tự làm hại mình; là chuyện về khủng hoảng phúc lợi hoặc nghèo đói – ở đây thuật ngữ vẫn là “nghèo đói giữa cảnh giàu sang”, mặc dù tình trạng nghèo đói hiện nay phải được coi là sung túc khi khẩu hiệu này lần đầu tiên được sử dụng một cách rộng rãi.  

“Bây giờ, cũng như lúc đó, việc khuyếch trương chủ nghĩa tập thể bao giờ cũng đi kèm với những lời thề bồi trung thành với các giá trị của chủ nghĩa cá nhân. Nhưng kinh nghiệm với các chính phủ lớn đã củng cố thêm xu hướng trái ngược này. Đã diễn ra những cuộc phản đối rộng khắp chống lại “giới quyền uy”, những đòi hỏi vang lên khắp nơi về quyền tự do “làm những việc riêng”, quyền được có lối sống riêng, đòi chế độ dân chủ tham gia. Nếu chỉ nghe chủ đề này, người ta có thể tin rằng ngọn triều của chủ nghĩa tập thể đang rút lui còn chủ nghĩa cá nhân thì đang dâng lên. Hayek đã chứng minh một cách đầy thuyết phục rằng, các giá trị này chỉ có thể tồn tại trong xã hội dựa trên các nguyên tắc của chủ nghĩa cá nhân. Chúng chỉ có thể thành tựu trong chế độ tự do, nơi hoạt động của chính phủ được hạn chế trước hết cho việc tạo lập khuôn khổ, trong đó các cá nhân được tự do theo đuổi các mục tiêu của mình[2]. Muốn có chế độ dân chủ mà mọi người đều có thể tham gia thì cách duy nhất là phải tuân theo cơ chế thị trường tự do.

“Đáng tiếc là, quan hệ giữa mục đích và phương tiện vẫn thường bị nhiều người hiểu sai. Nhiều người tuyên bố trung thành với các mục tiêu cá nhân chủ nghĩa, nhưng lại ủng hộ các phương tiện của chủ nghĩa tập thể mà không nhận ra mâu thuẫn. Người ta thích tin rằng các tệ nạn xã hội là do những người xấu gây ra còn nếu những người tốt (giống như chúng ta, dĩ nhiên rồi) nắm được quyền lực thì mọi việc sẽ tốt. Quan điểm này chỉ đòi hỏi cảm tính và thói tự mãn, những thứ vừa dễ kiếm vừa dễ thỏa mãn. Để hiểu tại sao những người “tốt” khi có quyền lực lại làm những điều ác, trong khi những người bình thường, không có quyền lực, nhưng có khả năng hợp tác một cách tự nguyện với những người xung quanh lại làm được nhiều việc thiện, đòi hỏi phải phân tích và tư duy, đặt cảm tính xuống dưới lý trí. Chắc chắn đấy sẽ là lời đáp cho câu hỏi huyền bí: vì sao chủ nghĩa tập thể với nạn độc tài và sự nghèo đói rõ ràng do nó gây ra lại được nhiều người coi là ưu việt hơn so với chủ nghĩa cá nhân với sự tự do và sung túc cũng rất rõ ràng. Luận cứ ủng hộ chủ nghĩa tập thể thật đơn giản nhưng là những luận cứ sai lầm, đấy là luận cứ cảm tính trực tiếp. Còn luận cứ ủng hộ chủ nghĩa cá nhân thì tinh tế và phức tạp; đấy là luận cứ lý tính gián tiếp. Đa số người ta lại có khả năng tư duy cảm tính phát triển hơn khả năng tư duy lý tính, ngay cả những người tự coi là trí thức cũng thế, đối với những người này thì đấy phải coi là hiện tượng ngược đời hay hiện tượng đặc biệt. 

“Ở phương Tây, cuộc chiến đấu giữa chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa cá nhân đã diễn ra như thế nào trong suốt một phần tư thế kỉ (bây giờ phải nói là nửa thế kỉ) qua, sau khi tác phẩm vĩ đại của Hayek được xuất bản? Thế giới công việc và thế giới tư tưởng đưa ra những câu trả lời hòan tòan khác nhau.

“Trong thế giới công việc, năm 1945 những ai trong chúng ta từng bị phân tích của Hayek thuyết phục đều chẳng nhìn thấy gì khác hơn là sự phát triển một cách đều đặn vai trò của nhà nước lấn át vai trò của cá nhân, là việc thay thế dần sáng kiến và kế hoạch cá nhân bằng sáng kiến và kế hoạch của nhà nước. Nhưng trên thực tế, phong trào này đã chẳng tiến được mấy, cả ở Anh, ở Pháp cũng như ở Hoa Kỳ. Còn ở Đức đã diễn ra những phản ứng quyết liệt nhằm thoát khỏi việc kiểm soát thời quốc xã và có một bước tiến vượt bậc về phía chính sách tự do trong lĩnh vực kinh tế.

“Điều gì đã tạo ra sự ngăn chặn bất ngờ như thế đối với chủ nghĩa tập thể? Tôi tin rằng có hai lực lượng đóng vai trò chủ yếu. Thứ nhất, và đây là điều đặc biệt quan trọng ở Anh, cuộc xung đột giữa kế họach hóa tập trung và tự do cá nhân, đề tài chính của Hayek, đã trở thành hiển nhiên, đặc biệt là khi nhu cầu cấp bách của kế họach hóa đã dẫn đến cái gọi là chỉ thị về “kiểm soát tuyển dụng”, theo đó, chính phủ có quyền phân phát cho người dân công ăn việc làm. Nhưng truyền thống tự do và các giá trị của tự do vẫn còn đủ mạnh ở Anh, cho nên khi xảy ra xung đột thì người ta sẵn sàng hi sinh kế họach hóa chứ không hi sinh tự do cá nhân. Sự thiếu hiệu quả của chủ nghĩa tập thể chính là lực cản thứ hai. Chính phủ đã tỏ ra không có khả năng quản lý các doanh nghiệp, không có khả năng tổ chức các nguồn lực để có thể đạt được các mục tiêu đề ra với giá phải chăng. Nó bị sa lầy trong sự hỗn lọan vì các thủ tục quan liêu và thiếu hiệu quả. Nhiều người tỏ ra thất vọng đối với tính hiệu quả của chính phủ trung ương trong việc quản lý các chương trình.

“Đáng tiếc là việc ngăn chặn chủ nghĩa tập thể lại không ngăn chặn được sự phình lên của chính phủ; đúng hơn, nó đã hướng sự phình lên này vào một kênh khác. Chính phủ không còn chú tâm vào hoạt động sản xuất nữa, mà chú tâm vào việc điều tiết một cách gián tiếp các doanh nghiệp được cho là của tư nhân và còn chú tâm hơn vào các chương trình chuyển giao của chính phủ, bao gồm thu thuế của một số người nhằm bao cấp cho một số người khác – tất cả đều nhân danh công bằng và xóa đói giảm nghèo, nhưng trên thực tế lại tạo ra sự hỗn độn đầy mâu thuẫn và thất thường của những khỏan bao cấp cho những nhóm lợi ích đặc biệt. Kết quả là phần thu nhập quốc dân bị chính phủ sử dụng ngày càng gia tăng.

“Trong thế giới tư tưởng, đối với những người tin vào chủ nghĩa cá nhân, kết quả còn đáng thất vọng hơn. Ở một khía cạnh nào đó, đây là điều đáng ngạc nhiên nhất. Kinh nghiệm trong một phần tư thế kỉ qua đã khẳng định một cách mạnh mẽ sự sáng suốt của Hayek: điều phối hoạt động của con người thông qua quản lý tập trung và thông qua sự hợp tác tự nguyện là hai con đường dẫn tới những hướng hòan tòan khác nhau: con đường thứ nhất đưa ta trở về thời kì nô lệ, còn con đường thứ hai dẫn tới tự do. Kinh nghiệm đó cũng một lần nữa khẳng định chủ đề thứ hai: quản lý tập trung là con đường dẫn người dân bình thường tới đói nghèo; còn hợp tác tự nguyện là con đường dẫn tới sung túc.

“Đông và Tây Đức gần như có thể cung cấp cho ta một thí nghiệm khoa học được kiểm soát. Đây là những người cùng một dòng máu, cùng một nền văn minh, có cùng kĩ năng và trí thức, nhưng đã bị tai họa của chiến tranh tách thành hai mảnh; hai mảnh đó đã áp dụng những phương pháp tổ chức xã hội hòan tòan khác nhau, một bên là quản lý tập trung, bên kia là kinh tế thị trường. Kết quả thật rõ ràng. Đông Đức chứ không phải Tây Đức phải xây bức tường để ngăn chặn người dân bỏ nước ra đi. Một bên bức tường là chuyên chế và nghèo đói, còn bên kia là tự do và phồn vinh.

“Ở Trung Đông, Israel và Ai Cập cho ta thấy một sự tương phản giống như Đông và Tây Đức. Ở Viễn Đông, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Đài Loan, Hồng Công và Nhật Bản – tất cả đều chủ yếu dựa vào thị trường tự do – là những nước thịnh vượng, dân chúng tràn trề hi vọng; khác hẳn với Ấn Độ, Indonesia và Trung Quốc cộng sản – những nước dựa chủ yếu vào kế hoạch hóa tập trung. Một lần nữa, chính Trung Quốc cộng sản chứ không phải Hồng Công phải canh gác biên giới để người dân không thể đào thoát được.

“Mặc cho sự xác nhận rõ ràng và đầy kịch tính luận điểm của Hayek như thế, bầu không khí trí tuệ ở phương Tây, sau một giai đoạn hồi sinh ngắn ngủi của các giá trị tự do trước kia, lại bắt đầu chuyển động theo hướng ngược lại hoàn toàn với tự do kinh doanh, cạnh tranh, sở hữu tư nhân và chính phủ hạn chế. Có một thời gian, điều Hayek mô tả về thái độ trí thức có vẻ như đã trở thành lỗi thời. Hôm nay, lời cảnh báo của nó còn chính xác hơn là cách đây chừng một thập niên. Không thể hiểu được vì sao sự phát triển lại đi theo hướng đó. Chúng ta đang cần một cuốn sách mới của Hayek, một cuốn sách sẽ soi sáng sự phát triển của trí tuệ trong một phần tư thế kỉ qua, như cuốn Đường về nô lệ trước đây đã làm được. Tại sao các tầng lớp trí thức khắp mọi nơi đều tự động đứng về phía chủ nghĩa tập thể – ngay cả khi họ đang hô những khẩu hiệu của chủ nghĩa cá nhân – phỉ báng và bôi nhọ chủ nghĩa tư bản? Vì sao các phương tiện truyền thông đại chúng khắp mọi nơi đều bị quan điểm này chi phối?

“Dù có giải thích như thế nào, thì sự kiện là sự ủng hộ ngày càng gia tăng của giới trí thức đối với chủ nghĩa tập thể – tôi tin đấy là sự thực – làm cho cuốn sách của Hayek hôm nay cũng hợp thời như lúc nó xuất hiện lần đầu tiên vậy. Hi vọng rằng lần xuất bản mới ở Đức- nước dễ lĩnh hội nhất thông điệp của cuốn sách – cũng tạo được ảnh hưởng như đã từng tạo ảnh hưởng trong lần xuất bản đầu tiên ở Anh và Mỹ. Cuộc chiến đấu vì tự do phải giành được hết thắng lợi này tới thắng lợi khác. Những người xã hội chủ nghĩa thuộc mọi đảng phái, những người mà Hayek đề tặng cuốn sách sẽ phải bị thuyết phục hay bị đánh bại một lần nữa, nếu họ và chúng ta còn muốn làm người tự do”

Đoạn áp chót trong bài giới thiệu của tôi cho lần xuất bản bằng tiếng Đức là đoạn duy nhất không còn hoàn toàn đúng nữa. Sự sụp đổ của bức tường Berlin, sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản sau bức màn sắt và sự thay đổi của nước Trung Quốc đã thu gọn những người bảo vệ chủ nghĩa tập thể theo chủ nghĩa Marx thành một nhóm nhỏ, nhưng cố kết trong các trường đại học phương Tây. Hôm nay, mọi người đều thừa nhận rằng chủ nghĩa xã hội đã thất bại, chủ nghĩa tư bản đã thành công. Song sự chuyển đổi rõ ràng của giới trí thức sang cái có thể gọi là quan điểm của Hayek lại dễ gây ngộ nhận. Trong khi người ta nói về thị trường tự do và sở hữu tư nhân – hiện nay chuyện này được tôn trọng hơn là việc bảo vệ laisser-faire* chưa hoàn chỉnh cách đây vài thập niên – phần lớn giới trí thức vẫn gần như tự động ủng hộ sự mở rộng quyền lực của chính phủ nếu nó được quảng bá như là biện pháp bảo vệ các cá nhân khỏi bị ảnh hưởng của các công ty lớn xấu xa, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường hay thúc đẩy “bình đẳng”. Cuộc thảo luận đang diễn ra về chương trình chăm sóc sức khoẻ quốc dân là một thí dụ điển hình. Các nhà trí thức có thể học thuộc lời nhưng vẫn không biết hát.

*Laissez Faire là lý thuyết hay hệ thống chính quyền ủng hộ tính tự chủ trong lĩnh vực kinh tế, tin rằng chính quyền càng ít can thiệp vào quản lý kinh tế thì càng tốt. Khái niệm này được cho là có xuất xứ từ quan điểm vô vi của Lão Tử  – ND.

Ngay từ đầu tôi đã nói rằng hiện nay, “trong chừng mực nào đó”, thông điệp của cuốn sách “còn liên quan đến Hoa Kỳ nhiều hơn cả khi đã gây chấn động dư luận … hơn nửa thế kỉ trước”. Giới trí thức lúc đó có thái độ thù địch với chủ đề của cuốn sách hơn là hiện nay, nhưng thực tiễn lúc đó lại phù hợp với nó hơn là hiện nay. Chính phủ sau Thế chiến II nhỏ hơn và ít chỉ đạo hơn hiện nay. Chương trình Xã hội Vĩ đại của Tổng thống Johnson, bao gồm Chăm sóc Y tế và Hỗ trợ Y tế, các đạo luật Không khí trong lành và Người Mỹ Tàn tật của chính quyền của tổng thống Bush vẫn còn ở phía trước, chưa nói đến biết bao vụ bành trướng khác của chính phủ mà Reagan, trong tám năm cầm quyền, chỉ có thể làm chậm lại chứ không thể đảo ngược được. Chi tiêu của chính phủ Hoa Kỳ, cả trung ương lẫn địa phương, đã tăng từ 25% tổng sản phẩm quốc dân năm vào 1950 lên thành 45% vào năm 1993.   

Ở Anh, tình hình cũng gần như vậy, theo một nghĩa nào đó thì còn kịch kính hơn. Đảng Lao động, trước đây công khai là đảng xã hội chủ nghĩa, hiện đứng về phía thị trường tự do tư nhân; còn Đảng Bảo thủ, đã từng chấp nhận cai trị theo chính sách xã hội chủ nghĩa của Đảng Lao động, đã thử làm ngược lại và ở mức độ nào đó, dưới thời Margaret Thatcher, đã thành công trong việc giảm thiểu quy mô sở hữu và điều hành của chính phủ. Nhưng Thatcher đã không thể kêu gọi một sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng cho các giá trị tự do như sự ủng hộ dẫn đến việc rút bỏ chỉ thị về “kiểm soát tuyển dụng” ngay sau Thế chiến II. Và trong khi diễn ra quá trình “tư nhân hóa” nhiều doanh nghiệp nhà nước, thì phần thu nhập quốc dân bị chính phủ sử dụng đã tăng lên và chính phủ cũng đưa ra nhiều chỉ thị hơn.

Nói rằng ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương chúng ta đang rao giảng chủ nghĩa cá nhân và tư bản cạnh tranh, nhưng lại đang thực hành chủ nghĩa xã hội thì cũng chỉ là phóng đại một chút mà thôi.

Ghi chú về lịch sử xuất bản*

Hayek bắt đầu viết Đường về nô lệ vào tháng 9 năm 1940 và cuốn sách được xuất bản lần đầu tiên tại Anh vào ngày 10 tháng 3 năm 1944. Hayek ủy quyền cho bạn ông là tiến sĩ Fritz Machlup, một người tị nạn Áo lúc đó đang có một sự nghiệp xuất sắc trong giới hàn lâm Hoa Kỳ và đã được nhận vào làm việc tại Văn phòng chăm sóc tài sản của người nước ngòai ở Washington D. C. từ năm 1944, kí hợp đồng với một nhà xuất bản Mỹ. Trước khi đưa đến Nhà xuất bản của trường đại học Chicago (University of Chicago Press), cuốn sách đã bị ba nhà xuất bản ở Mỹ từ chối, vì hoặc là họ tin rằng sẽ không bán được và có ít nhất một trường hợp, coi cuốn sách là “không phù hợp đối với một nhà xuất bản có danh tiếng”[3]. Không nản chí, Machlup đưa những trang in thử của bản in ở Anh cho Aaron Director, nguyên là thành viên của Khoa kinh tế trường đại học Chicago (University of Chicago Economics Department), ông này mới quay lại trường và giảng kinh tế ở Trường Luật (Law School). Sau đó Frank H. Knight, một nhà kinh tế học xuất sắc của Trường nhận được một tập in thử và trình cho Nhà xuất bản của trường đại học Chicago với đề xuất của Director rằng Nhà xuất bản nên in cuốn sách.

* Đọan này chủ yếu dựa trên nghiên cứu của Alex Philipson, Giám đốc xúc tiến sản phẩm của Nhà xuất bản của trường đại học Chicago

Nhà xuất bản kí hợp đồng với Hayek để được quyền xuất bản ở Mỹ vào tháng 4 năm 1944, sau khi đã thuyết phục ông thực hiện một vài thay đổi nhằm “Để phù hợp với Hoa Kỳ… chứ không phải là trình bày trực tiếp cho số lượng độc giả hạn chế ở Anh”, John Scoon, lúc đó là biên tập viên của nhà xuất bản, hồi tưởng lại. “Đầu tháng 4, tức khỏang thời gian kí hợp đồng xuất bản tại Mỹ, chúng tôi bắt đầu nghe dư luận về cuốn sách ở Anh, cuốn sách được xuất bản ở bên đó vào ngày 10 tháng 3. Đợt đầu chỉ in có 2.000 cuốn, nhưng đã bán hết trong vòng một tháng. Nó được trích dẫn tại quốc hội và trên báo chí, một vài tờ báo ở đây cũng bắt đầu nhắc tới cuốn sách, nhưng chúng tôi vẫn chưa biết chắc ở Mỹ nó sẽ có sức hấp dẫn đến mức nào. Sự thực là, ngay trước ngày xuất bản, chúng tôi vẫn chưa khuấy động được nhiệt tình của các nhà sách, ngay cả ở New York”[4].

Lần xuất bản đầu tiên ở Chicago là vào ngày 18 tháng 9 năm 1944, in 2.000 cuốn, với lời giới thiệu của Chamberlain, một kí giả và nhà phê bình sách chuyên viết về kinh tế đã nổi tiếng ngay từ lúc đó. “Bài điểm sách đầu tiên chúng tôi thấy”, Scoon nói tiếp, “là bài của Orville Prescott đăng trên tờ New York Times ra ngày 20 tháng 9 năm 1944, một bài viết vô thưởng vô phạt và gọi nó là “một cuốn sách mỏng đầy giận dữ và chán ngắt”, nhưng trước khi thấy bài của Henry Hazlitt trên trang bìa tờ Sunday Times Book Review chúng tôi đã đặt in đợt hai 5.000 cuốn nữa. Trong vài ngày chúng tôi đã nhận được đề nghị cho phép dịch sang tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Hà Lan và các thứ tiếng khác, ngày 27 tháng 9 chúng tôi đặt in đợt ba 5.000 cuốn nữa, ngày hôm sau lại đẩy lên 10.000 cuốn…

“Đầu tháng 10, nhiều kho sách trống rỗng, chúng tôi bận túi bụi với việc in ấn, đóng sách, gửi và phân phối cho khách hàng cả ở Mỹ lẫn Canada… Ngay từ đầu mọi người đã phấn chấn lắm rồi, nhưng việc tiêu thụ thì lúc lên lúc xuống…

“Cảm giác cay đắng về cuốn sách tăng lên cùng với thời gian và mỗi lần cuốn sách gây thêm được ấn tượng thì cảm giác cay đắng cũng lại càng cao thêm. (Người ta thường hành động một cách thiếu suy nghĩ, sao họ không đọc nó để xem Hayek thực sự nói gì!”. Nhận xét của Scoon đến nay vẫn còn đúng.

Tháng 4 năm 1945, tờ the Reader’s Digest xuất bản ấn phẩm rút gọn và hơn 600.000 bản rút gọn đã được Câu lạc bộ Sách Trong Tháng phân phối hết. Dự đóan được nhu cầu sau khi Digest xuất bản ấn phẩm rút gọn, cũng như đợt lưu giảng của Hayek dự kiến vào mùa xuân năm 1945, Nhà xuất bản đã dàn xếp một số lượng in lớn trong lần in thứ bảy. Nhưng vì thiếu giấy nên lần in này bị giới hạn ở 10.000 ấn phẩm và Nhà xuất bản buộc phải giảm kích thước xuống thành lọai sách bỏ túi. Một cuốn trong lần xuất bản này hiện đang nằm trong thư viện của tôi. 

Trong 50 năm kể từ khi xuất bản, Nhà xuất bản đã bán được hơn 250.000 cuốn, 81.000 cuốn bìa cứng và 175.000 cuốn bìa mềm. Ấn bản bìa mềm được Nhà xuất bản của trường đại học Chicago ấn hành lần đầu vào năm 1956. Lawrence, con trai của Hayek thông báo rằng gần hai mươi bản dịch ra các ngôn ngữ khác được cấp phép xuất bản. Ngòai ra, các bản dịch chui, không có phép cũng được lưu hành ở Nga, Ba Lan, Czech và có thể cả các ngôn ngữ khác, khi Đông Âu còn nằm sau bức màn sắt. Không nghi ngờ gì rằng các trước tác của Hayek và đặc biệt là tác phẩn này, đã là nguồn trí tuệ quan trọng góp phần phá vỡ niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản ở bên kia bức màn sắt, cũng như ở bên phía chúng ta.

Sau khi Bức tường Berlin sụp đổ mới có điều kiện xuất bản công khai cuốn sách trong các nước thuộc Liên Xô và các chư hầu của Liên Xô cũ. Tôi biết từ nhiều nguồn khác nhau nói rằng mối quan tâm về các tác phẩm của Hayek nói chung và cuốn Đường về nô lệ nói riêng đã có sự gia tăng đột biến ở các nước này.

Từ khi Hayek mất vào năm 1992, ngày càng có nhiều người công nhận ảnh hưởng của ông đối với các chế độ cả cộng sản lẫn không cộng sản. Các nhà xuất bản của ông có thể vững tin tiếp tục bán tác phẩm xuất chúng này chừng nào mà tự do ngôn luận còn chiếm ưu thế, tuy đã bị xói món phần nào kể từ khi Hayek chấp bút cuốn sách này, song chính nhờ cuốn sách mà tự do ngôn luận đã được củng cố thêm.     

Stanford, California.

Ngày 14 tháng 4 năm 1994.

Lời giới thiệu cho lần tái bản năm 1976

Cuốn sách này được chấp bút trong thời gian rảnh rỗi từ năm 1940 đến năm 1943, khi tôi đang còn bận tâm chủ yếu đối với các vấn đề lý thuyết kinh tế thuần tuý, nó đã đột ngột trở thành xuất phát điểm cho công việc trong lĩnh vực mới kéo dài hơn ba mươi năm sau đó của tôi. Sở dĩ có bước thử nghiệm đầu tiên trong đường hướng mới là vì tôi cảm thấy bất mãn với cách diễn giải hoàn toàn sai lầm đặc trưng của phong trào Quốc xã* trong các giới “tiến bộ” ở Anh. Tôi đã viết một bản ghi nhớ gửi cho Sir William Beveridge, lúc đó là Giám đốc Trường kinh tế London và sau đó là bài báo trên tờ Contemporary Review vào năm 1938, rồi theo yêu cầu của Giáo sư Harry G. Gideonse của Trường Đại học Chicago tôi lại mở rộng bài báo thành xuất bản phẩm trong loạt Sách mỏng về Chính sách Công của ông và cuối cùng, khi phát hiện ra rằng tất cả các đồng nghiệp người Anh có thẩm quyền hơn trong lĩnh vực này đang bận tâm với các vấn đề khẩn thiết hơn của cuộc chiến, tôi đành miễn cưỡng mở rộng thành tiểu luận này. Mặc cho sự thành công bất ngờ của cuốn sách – lần xuất bản không hề được dự liệu trước ở Mỹ còn thành công vang dội hơn cả ở Anh – một thời gian dài tôi vẫn không cảm thấy vui. Mặc dù tôi đã tuyên bố thẳng ngay từ đầu rằng đây là cuốn sách chính trị, đa số các nhà khoa học đồng nghiệp với tôi nói rằng tôi đã sử dụng năng lực của mình trong một lĩnh vực không thích hợp, và tự tôi cũng cảm thấy không thoải mái khi nghĩ rằng kiến thức của tôi không cho phép viết về những vấn đề bên ngoài lĩnh vực kinh tế kĩ thuật. Tôi sẽ không nói về sự phẫn nộ mà cuốn sách đã gây ra trong một số giới, hay sự khác biệt lạ lùng trong cách tiếp nhận ở Anh và Mỹ, chuyện này tôi đã nói trong Lời giới thiệu cho xuất bản phẩm bìa mềm ra lần đầu tiên ở Mỹ cách đây hai mươi năm. Với mong muốn thể hiện tính chất của phản ứng lan tràn lúc đó, tôi chỉ nhắc đến một triết gia nổi tiếng, xin được giấu tên, ông này đã viết thư cho một triết gia khác để trách cứ là đã ca ngợi cuốn sách đầy tai tiếng “mà dĩ nhiên là (ông ta) không đọc” này!

*Nazi (Nazism) hay National Socialism (tiếng Đức Nationalsozialismus) là những từ chỉ hệ tư tưởng và hoạt động của Đảng Nazi dưới thời Adolf Hitler. Cũng như chính sách của chính phủ Nazi Đức từ năm 1933 đến năm 1945, cũng gọi là Đế chế thứ III. Để cho nhất quá từ Nazi sẽ được dịch thành quốc xã, còn National Socialism thành chủ nghĩa xã hội quốc gia – ND.

Mặc dù tôi đã tìm mọi cách để quay về với kinh tế học đích thực, tôi vẫn không giải thoát khỏi cảm giác rằng những vấn đề tôi đã bắt tay vào một cách hoàn toàn tình cờ lại chứa đựng nhiều thách thức và quan trọng hơn là lý thuyết kinh tế, và nhiều vấn đề tôi đề cập đến trong bản phác thảo đầu tiên cần được làm rõ và trau chuốt kĩ lưỡng hơn. Khi viết cuốn sách này, tôi vẫn chưa giải thoát hoàn toàn khỏi những định kiến và tín điều chi phối dư luận chung, thậm chí tôi còn chưa biết cách tránh tất cả những rối rắm của các thuật ngữ và khái niệm thịnh hành lúc đó mà sau này tôi mới ý thức được một cách thật sự rõ ràng. Việc thảo luận những hậu quả của chính sách xã hội chủ nghĩa mà cuốn sách này thử làm dĩ nhiên là sẽ không đầy đủ khi chưa miêu tả một cách thích đáng những điều mà một thị trường vận hành một cách phù hợp đòi hỏi và có thể đạt được. Kết quả đầu tiên của những cố gắng nhằm giải thích bản chất của chế độ tự do là cuốn sách quan trọng với nhan đề The Constitution of Liberty – 1960 (Hiến pháp của tự do), trong đó tôi trình bày lại và làm cho học thuyết về chủ nghĩa tự do cổ điển thế kỉ XIX trở thành nhất quán hơn. Sau khi thấy rằng việc nói lại vẫn còn bỏ sót những vấn đề quan trọng chưa được giải đáp, tôi lại phải nỗ lực thêm nhằm đưa ra câu trả lời của riêng mình trong tác phẩm gồm ba tập với nhan để Law, Legislation, and Liberty (Luật, Luật pháp, và Tự do), tập đầu được ấn hành vào năm 1973.

Tôi tin rằng trong hai mươi năm qua tôi đã học được nhiều thứ liên quan đến các vần đề được thảo luận trong cuốn sách này, mặc dù tôi không nghĩ rằng đã đọc lại nó một lần nào trong suốt thời gian đó. Bây giờ đọc lại để viết Lời giới thiệu, tôi không còn cảm thấy hối tiếc nữa, mà lần đầu tiên còn cảm thấy tự hào, đặc biệt là sự sáng suốt đã mách bảo tôi viết lời đề tặng “Tặng những người xã hội chủ nghĩa thuộc mọi đảng phái”. Thật vậy, mặc dù trong thời gian qua, tôi đã học được nhiều điều mà khi chấp bút cuốn sách này tôi chưa biết, tôi vẫn thường lấy làm ngạc nhiên là tôi đã nhìn thấy nhiều đến thế ngay từ bước khởi đầu mà tác phẩm sau này đã khẳng định; và mặc dù những nỗ lực của tôi sau này là phần thưởng xứng đáng hơn cho một chuyên gia, tôi hi vọng thế, tôi vẫn không ngần ngại giới thiệu cuốn sách được viết từ những ngày đầu này cho quảng đại quần chúng độc giả, giới thiệu cho những ai chỉ muốn làm quen bước đầu với đề tài mà tôi tin vẫn là một trong những vấn đề đáng lo ngại nhất mà chúng ta cần phải giải quyết.

Độc giả có thể hỏi, phải chăng điều này có nghĩa là tôi sẵn sàng bảo vệ tất cả các kết luận chính của cuốn sách, câu trả lời là nói chung là khẳng định. Hạn chế quan trọng nhất tôi phải nhắc đến là trong thời gian qua, thuật ngữ đã thay đổi và vì vậy những điều tôi viết trong cuốn sách có thể bị hiểu lầm. Khi tôi viết cuốn sách này, chủ nghĩa xã hội chỉ có nghĩa là quốc hữu hoá các phương tiện sản xuất và kế hoạch hoá tập trung. Theo nghĩa đó thì, thí dụ, Thuỵ Điển hiện nay ít tính chất xã hội chủ nghĩa về mặt tổ chức hơn nước Anh hay nước Áo, mặc dù Thuỵ Điển lại được coi là nhiều xã hội chủ nghĩa hơn. Đấy là do hiện nay chủ nghĩa xã hội có nghĩa chủ yếu là tái phân phối một cách mạnh mẽ thu nhập thông qua thuế khoá và các thiết chế của nhà nước phúc lợi. Đối với kiểu chủ nghĩa xã hội loại này, các tác động mà tôi thảo luận trong cuốn sách xảy ra chậm hơn, gián tiếp hơn và không toàn diện bằng. Tôi tin rằng kết quả cuối cùng thì vẫn thế, mặc dù quá trình đưa đến kết quả như thế, không hoàn giống như cuốn sách này mô tả.

Người ta thường viện dẫn một cách thiếu căn cứ rằng tôi tuyên bố là mọi trào lưu theo hướng xã hội chủ nghĩa đều nhất định sẽ dẫn đến chế độ toàn trị. Mặc dù có mối nguy như thế, nhưng đây không phải là điều cuốn sách nói. Cuốn sách đưa ra lời cảnh báo rằng, nếu chúng ta không sửa đổi các nguyên tắc trong chính sách của mình thì sẽ xảy ra một số hậu qủa rất không hay, mà hầu hết những người ủng hộ những chính sách đó cũng không muốn.

Tôi cảm thấy mình sai vì đã không nhấn mạnh đúng tầm quan trọng kinh nghiệm của chủ nghĩa cộng sản ở nước Nga – sai lầm có thể tha thứ được nếu ta nhớ rằng lúc đó nước Nga là đồng minh chiến tranh của chúng ta – lúc đó tôi cũng chưa giải thoát khỏi tất cả những tín điều của chủ nghĩa can thiệp đương thời và kết quả là đã đưa ra một số nhượng bộ khác nhau mà bây giờ tôi nghĩ là không chính đáng. Dĩ nhiên là tôi cũng chưa nhận thức được một cách đầy đủ rằng trong một số lĩnh vực nhiều việc đã tồi tệ đến mức nào. Thí dụ, tôi vẫn còn coi là một câu mang tính tu từ khi hỏi nếu Hitler nắm được quyền lực vô giới hạn theo đúng các thủ tục hợp hiến “ai dám nói rằng ở Đức vẫn có chế độ pháp quyền?” để rồi sau đó mới biết rằng các Giáo sư Hans Kelsen và Harold J. Laski và có thể còn nhiều luật gia theo đường lối xã hội chủ nghĩa và các nhà chính trị học đi theo đường lối của những tác gia đầy ảnh hưởng này đã ủng hộ chính điều đó. Nói chung, việc nghiên cứu các xu hướng tư duy và thiết chế đương thời đã làm gia tăng sự quan ngại và lo lắng của tôi. Ảnh hưởng của các tư tưởng xã hội chủ nghĩa và niềm tin ngây thơ vào những ý định tốt đẹp của những kẻ nắm giữ quyền lực toàn trị đã không ngừng gia tăng kể từ ngày tôi viết xong cuốn sách này.

Một thời gian dài tôi đã lấy làm tự ái vì bị mọi người coi cuốn sách như một tác phẩm về thời sự trong giai đoạn đó, chứ không phải là một tác phẩm khoa học thực sự. Sau khi kiểm tra lại những điều đã viết lúc đó dưới ánh sáng của công tác khảo cứu những vấn đề đặt ra lúc đó trong suốt ba mươi năm qua, tôi không còn tự ái nữa. Mặc dù cuốn sách có thể chứa những điều mà lúc đó tôi không thể chứng minh một cách thuyết phục, nó vẫn là một cố gắng thực sự trong việc đi tìm chân lý, cái chân lý mà tôi tin rằng đã tạo ra sự sáng suốt giúp cho ngay cả những người không đồng tình với tôi tránh được mối nguy hiểm chết người.

F. A. Hayek

[1] Der Weg Zur Knechtschaft: Den Sozialisten in allen Parteien, © 1971 (cho lần xuất bản mới) Verlag Moderne Industrie AG, 96895 Landsberg am Lech. Đây là lần xuất bản đầu tiên ở Đức, mặc dù bản dịch tiếng Đức Đường về nô lệ đã được xuất bản ở Thuỵ Sỹ vào năm 1948.

[2] (Chua thêm năm 1994) Tôi sử dụng thuật ngữ tự do (liberal) giống như Hayek đã dùng trong cuốn sách này, cũng như trong lời giới thiệu cho lần xuất bản bìa mềm vào năm 1956 (xem bên dưới), tức là theo nghĩa ban đầu của thế kỉ XIX là chính phủ hạn chế và thị trường tự do, chứ không phải theo nghĩa đã bị làm cho sai lạc đi, gần như ngược lại, ở Hoa Kì.

[3] Xin đọc Lời giới thiệu của Hayek cho lần xuất bản bìa mềm năm 1956

[4] Thư gửi C. Harley Gralan, ngày 2 tháng 5 năm 1945.

Lời giới thiệu cho lần xuất bản bìa mềm năm 1956

Mặc dù ở một vài khía cạnh nào đó, cuốn sách này có thể đã khác nếu ngay từ đầu tôi chủ ý viết nó trước hết cho các độc giả Mỹ, cho đến nay nó đã chứng tỏ rằng không cần viết lại gì cả. Việc tái bản nó dưới một hình thức mới, hơn mười năm sau lần xuất hiện đầu tiên, có lẽ là cơ hội để giải thích mục đích ban đầu và đưa ra vài lời bình luận về thành công hoàn toàn bất ngờ và trong nhiều phương diện là khá lạ lùng mà cuốn sách đã giành được ở đất nước này. 

Cuốn sách được viết ở Anh trong những năm chiến tranh và hầu như được dự định dành riêng cho độc giả Anh. Thực ra nó được nhắm đến cho một giai tầng đặc biệt các độc giả Anh. Hoàn toàn không phải là giễu cợt khi tôi dành lời đề tặng: “Tặng những người xã hội chủ nghĩa thuộc mọi đảng phái”. Nó xuất phát từ các cuộc thảo luận mà tôi đã tiến hành suốt mười năm trước đó với các bạn bè và đồng nghiệp, những người có cảm tình với cánh Tả, cuốn Đường về nô lệ là sự tiếp tục các cuộc thảo luận đó.

Khi Hitler nắm được chính quyền ở Đức thì tôi đã giảng dạy ở Trường Đại học Tổng hợp London (University of London) được mấy năm rồi, nhưng tôi vẫn giữ quan hệ mật thiết với công việc ở Lục địa và vẫn làm như thế cho đến khi nổ ra chiến tranh. Vì vậy, tôi đã nhận ra cội nguồn và sự phát triển của các phong trào toàn trị khác nhau và điều đó đã làm cho tôi cảm thấy rằng dư luận xã hội ở Anh, đặc biệt là những người bạn có quan điểm “tiên tiến” của tôi về các vấn đề xã hội đã hoàn toàn hiểu sai bản chất của các phong trào đó. Thậm chí ngay trước chiến tranh, điều này đã dẫn tôi đến tuyên bố trong một một tiểu luận ngắn cái đã trở thành chủ đề chính của cuốn sách này. Nhưng sau khi chiến tranh nổ ra, tôi cảm thấy rằng sự hiểu lầm phổ biến về hệ thống chính trị của kẻ thù của chúng ta, cũng như của nước Nga, đồng minh mới của chúng ta, đã tạo ra một nguy cơ nghiêm trọng, cần phải đáp trả bằng một nỗ lực có hệ thống hơn. Hơn nữa, rõ ràng là bản thân nước Anh sau chiến tranh cũng muốn thử nghiệm chính cái chính sách mà tôi tin rằng đã có đóng góp to lớn vào việc phá huỷ tự do ở những nơi khác.

Vì vậy, cuốn sách này đã hình thành dần dần như một lời cảnh báo đối với tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa ở Anh; do tình hình thời chiến cho nên việc xuất bản có bị chậm trễ và cuối cùng nó đã được xuất bản vào đầu mùa xuân năm 1944. Thời điểm này, vô tình, cũng sẽ giải thích vì sao tôi lại cảm thấy rằng để có người nghe tôi phải hạn chế bình luận về các chế độ đồng minh của chúng ta và chọn minh hoạ chủ yếu từ sự phát triển ở nước Đức.

Dường như cuốn sách đã xuất hiện vào thời điểm thuận lợi và tôi cảm thấy hài lòng vì thấy nó đã thành công ở Anh, tuy theo một cách khác nhưng cũng không kém so với thành tích mà nó đã đạt được ở Hoa Kỳ. Nói chung, cuốn sách đã được tiếp nhận theo đúng tinh thần khi chấp bút, các lý lẽ của nó đã được những người mà nó nhắm đến nghiên cứu một cách cẩn thận. Trừ một số nhà lãnh đạo thuộc Công đảng – những người, dường như để cung cấp minh hoạ cho nhận xét của tôi về xu hướng dân tộc chủ nghĩa trong phong trào xã hội chủ nghĩa, đã tấn công cuốn sách với lý do tác giả là người ngoại quốc – việc những người có niềm tin trái ngược hẳn với những kết luận của tác phẩm lại nghiên cứu nó với một thái độ chín chắn và thông cảm đã tạo cho tôi ấn tượng sâu sắc[1]. Cũng có thể nói tương tự như thế về các nước khác ở châu Âu, rốt cuộc, cuốn sách cũng đã xuất hiện ở đây; việc thế hệ hậu quốc xã ở Đức đã tiếp nhận cuốn sách một cách đặc biệt nồng nhiệt, khi các bản dịch xuất bản ở Thuỵ Sĩ được đưa đến nước này, là một tin vui bất ngờ đối với tôi.

Vài tháng sau khi xuất hiện ở Anh, cuốn sách được xuất bản ở Hoa Kỳ và được tiếp nhận hơi khác một chút. Khi viết, tôi ít nghĩ rằng nó sẽ có sức hấp dẫn đối với độc giả Mỹ. Tôi đến Mỹ lần cuối cùng cách đấy đã hai mươi năm, khi còn là một nghiên cứu sinh và đã phần nào mất liên hệ với tiến trình phát triển tư tưởng ở Mỹ trong suốt thời gian đó. Tôi không biết chủ đề của cuốn sách có liên quan trực tiếp đến tình hình ở Mỹ như thế nào và đã không hề ngạc nhiên khi nó bị ba nhà xuất bản đầu tiên từ chối[2]. Chắc chắn điều bất ngờ nhất là sau khi được nhà xuất bản hiện nay in, cuốn sách đã được tiêu thụ với tốc độ hầu như chưa từng có từ trước đến nay đối với những tác phẩm không dành cho đại chúng thuộc loại này[3]. Mức độ phản ứng từ cả hai cánh chính trị, sự khen ngợi hết lời từ phía này và lòng thù hận không kém của phía kia, thậm chí còn làm tôi ngạc nhiên hơn.

Trái với kinh nghiệm ở Anh, những người mà cuốn sách này chủ yếu hướng tới, ở Mỹ dường như người ta đã chối bỏ nó ngay lập tức, họ coi nó là cuộc tấn công hiểm độc và gian xảo vào những lý tưởng cao quí nhất của họ; dường như họ chẳng bao giờ giành thời gian để nghiên cứu các lý lẽ của nó. Ngôn từ cũng như tình cảm thể hiện trong những tác phẩm phê phán mang tính thù nghịch quả thực là lạ lùng[4]. Việc nhiều người mà tôi nghĩ là sẽ chẳng bao giờ đọc tác phẩm loại này, cũng như rất nhiều người mà đến nay tôi vẫn ngờ là liệu họ thực sự đã đọc hay chưa đã nhiệt liệt chào mừng tác phẩm cũng là một điều gây ngạc nhiên không kém. Tôi phải nói thêm rằng đôi khi bút pháp mà người ta sử dụng làm cho tôi nhận thức một cách sinh động chân lý trong lời nhận xét của Lord Acton rằng “bạn bè chân thành của tự do lúc nào cũng hiếm, và nó giành được chiến thắng là nhờ thiểu số, họ thắng bằng cách liên kết với những trợ tá có mục tiêu khác với mục tiêu của họ; sự liên kết này lúc nào cũng nguy hiểm và đôi khi còn thảm khốc nữa”.

 Sự khác nhau một cách bất thường trong việc tiếp nhận cuốn sách ở hai bên bờ Đại Tây Dương có lẽ không phải là hoàn toàn là do sự khác nhau về tính khí dân tộc. Càng ngày tôi càng tin rằng phải tìm lời giải thích trong sự khác biệt về tri thức tại thời điểm đó. Ở Anh và ở châu Âu nói chung, các vấn đề tôi thảo luận từ lâu đã không còn là vấn đề trừu tượng nữa. Các lý tưởng mà tôi khảo sát đã hạ cánh xuống mặt đất từ lâu, ngay cả những người ủng hộ nhiệt thành nhất cũng đã nhìn thấy một số khó khăn và kết quả bất như ý, nếu đem áp dụng những lý tưởng này vào thực tiễn. Như vậy là, tôi viết về những hiện tượng mà hầu hết các độc giả châu Âu của tôi đã có ít nhiều kinh nghiệm, tôi chỉ lập luận một cách hệ thống và nhất quán điều mà nhiều người đã cảm nhận được bằng trực giác. Nhiều người đã vỡ mộng và xem xét chúng một cách có phê phán đơn giản chỉ là trình bày thành tiếng và rõ ràng hơn mà thôi.

Ở Mỹ, ngược lại, các lý tưởng này vẫn còn mới mẻ và độc hại hơn. Phần lớn giới trí thức mới bị nhiễm từ mười đến mười lăm năm nay chứ không phải là bốn năm mươi năm như ở Anh. Và mặc dù đã có những thử nghiệm của Chính Sách Mới (Chính sách do Tổng thống Roosevelt đưa ra vào năm 1932 – ND), lòng nhiệt tình của họ đối với kiểu xã hội được xây dựng một cách hợp lý phần lớn vẫn chưa bị kinh nghiệm thực tiễn vấy bẩn. Cái mà đối với đa số người Âu, ở mức độ nào đó đã là vieux jeux (trò chơi cũ – tiếng Pháp – ND) thì đối với những người cấp tiến Mỹ vẫn là hi vọng rực rỡ về một thế giới tốt đẹp hơn, niềm hi vọng mà họ đã ôm ấp và nuôi dưỡng trong suốt những năm Đại Suy Thoái.

Ở Mỹ, dư luận thay đổi khá nhanh, và hiện nay khó mà nhớ được giai đoạn ngắn ngủi trước khi cuốn Đường về nô lệ xuất hiện, khi mà chính những người chẳng bao lâu sau đó sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành nhà nước đã ủng hộ một cách nghiêm túc hình thức kinh tế kế hoạch hoá cực đoan nhất và coi mô hình Liên Xô là tấm gương cần noi theo. Đưa ra bằng chứng là việc dễ, nhưng nêu tên các cá nhân là việc không hay. Chỉ xin nói rằng Uỷ ban Kế hoạch hoá Quốc gia được thành lập vào năm 1934 đã dành nhiều chú ý cho việc học tập việc lập kế hoạch của bốn nước: Đức, Ý, Nga và Nhật. Mười năm sau tất nhiên chúng ta đã coi chính các nước này là “toàn trị” và chiến đấu khá lâu với ba nước và chẳng bao lâu sau thì bắt đầu “chiến tranh lạnh” với nước thứ tư. Thế mà nội dung của cuốn sách này nói rằng diễn tiến chính trị ở các nước đó có liên quan đến chính sách kinh tế của họ lại bị những người ủng hộ kế hoạch hoá ở Mỹ bác bỏ một cách đầy phẫn nộ. Mọi người đột ngột đồng thanh nói rằng cảm hứng kế hoạch hoá không đến từ nước Nga và còn đoan chắc, như một nhà phê bình xuất sắc của tôi đã nói, rằng “sự thật đơn giản là Ý, Nga, Nhật và Đức đã tiến đến chế độ toàn trị bằng những con đường hoàn toàn khác nhau”.

Cuốn Đường về nô lệ xuất hiện trong bầu không khi trí tuệ như thế, cho nên nó nhất định phải gây ra hoặc là sự căm tức tột độ hoặc là sự thích thú lớn lao cho các thành viên của những nhóm bị chia rẽ sâu sắc ở Hoa Kỳ. Hậu quả là, mặc dù có thành công bề ngoài, cuốn sách đã không gây được ảnh hưởng như tôi muốn hay như đã gây ra ở các nơi khác. Đúng là các kết luận của nó ngày nay đã được chấp nhận một cách rộng rãi. Nếu mười hai năm trước nhiều người còn coi giả thuyết cho rằng chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản chỉ đơn thuần là các biến thể của chủ nghĩa toàn trị do chế độ kiểm soát tất cả các hoạt động kinh tế tạo ra, là tội báng bổ thánh thần thì ngày nay, hầu như đã trở thành câu nói cửa miệng của mọi người. Thậm chí hiện nay, đa số đã nhận ra rằng chủ nghĩa xã hội dân chủ là một việc rất không ổn định và không chắc chắn, đầy những mâu thuẫn nội tại và ở đâu nó cũng tạo ra những kết quả rất khó chịu với ngay cả nhiều người ủng hộ nó.   

Những bài học rút ra từ các sự kiện và việc thảo luận một cách rộng rãi các vấn đề[5] chắc chắn có đóng góp nhiều hơn cuốn sách này trong việc tạo ra thái độ tỉnh táo nói trên. Khi được xuất bản, luận điểm tổng quát của tôi cũng không phải là độc đáo. Những lời cảnh báo tương tự được đưa ra sớm hơn phần nhiều đã bị lãng quên, những mối nguy hiểm gắn liền với các chính sách mà tôi phê phán đã được nhiều người đưa ra từ trước rồi. Giá trị của cuốn sách không phải là ở chỗ nhắc lại luận điểm này mà là ở việc khảo sát một cách kiên trì và chi tiết các nguyên nhân vì sao kế họach hóa kinh tế lại dẫn đến những kết quả bất như ý và các quá trình dẫn đến kết quả như thế.

Vì lý do đó, tôi hi vọng rằng bây giờ ở Mỹ sẽ có điều kiện thuận lợi hơn cho việc xem xét một cách nghiêm túc lý lẽ thật sự của cuốn sách hơn là khi nó mới xuất hiện lần đầu. Tôi tin rằng những điều quan trọng trong cuốn sách vẫn còn có giá trị, mặc dù tôi công nhận rằng ở phương Tây, chủ nghĩa xã hội “nóng”, tức là phong trào ủng hộ việc tổ chức một cách có chủ ý đời sống kinh tế do nhà nước làm chủ tất cả các phương tiện sản xuất, đã gần như chết hẳn rồi. Thế kỉ của chủ nghĩa xã hội theo nghĩa này có lẽ đã cáo chung vào khỏang năm 1948. Thậm chí các lãnh tụ của nó cũng đã vứt bỏ nhiều ảo tưởng, ở Mỹ cũng như ở các nơi khác, ngay cái tên chủ nghĩa xã hội cũng đã mất hầu hết tính hấp dẫn rồi. Không nghi ngờ gì rằng sẽ có những cố gắng nhằm cứu vãn một cái tên cho các phong trào ít giáo điều hơn, ít cố chấp và ít hệ thống hơn. Nhưng luận cứ chỉ để chống lại các quan niệm dứt khoát về công cuộc cải cách xã hội đặc trưng cho các phong trào xã hội chủ nghĩa của quá khứ có thể bị người ngày nay coi là cuộc chiến đấu với cối xay gió.

Mặc dù chủ nghĩa xã hội “nóng” có thể đã thuộc về quá khứ, một số quan điểm của nó đã ngấm quá sâu vào cơ cấu tư duy đương thời, cho nên ta không thể có thái độ tự mãn được. Mặc dù hiện chẳng có mấy người ở phương Tây muốn xây dựng lại xã hội từ dưới lên theo một kế hoạch lý tưởng nào đó, nhưng rất nhiều người vẫn còn tin vào những biện pháp, tuy không được thiết kế một cách hòan chỉnh, nhằm tái cơ cấu nền kinh tế, tác động tổng thể của các biện pháp này vẫn có thể tạo ra những kết quả như thế một cách không chủ ý. Và thậm chí còn hơn cả lúc tôi viết cuốn sách này, sự ủng hộ các chính sách mà trong dài hạn không thể dung hòa với việc bảo tồn xã hội tự do đã không còn là vấn đề đảng phái nữa. Món hổ lốn các lý tưởng thường là thiếu nhất quán và được lắp ghép một cách lộn xộn dưới cái tên Nhà nước Phúc lợi, về đại thể được những nhà cải cách xã hội coi là mục tiêu thay cho chủ nghĩa xã hội, cần phải được chọn lựa một cách cực kì cẩn thận nếu muốn nó không lặp lại kết quả y xì như chủ nghĩa xã hội chính cống. Đấy không phải là nói một vài mục tiêu của nó là không thực tiễn và không đáng ca ngợi. Có nhiều con đường đưa tới cùng mục tiêu đó, nhưng trong tình hình dư luận hiện nay, có nguy cơ là sự nôn nóng muốn có kết quả nhanh chóng có thể đưa đến việc chúng ta lựa chọn phương tiện tuy hiệu quả hơn trong việc đạt được những mục tiêu cụ thể nhưng lại không tương thích với việc bảo vệ xã hội tự do. Xu hướng sử dụng các biện pháp cưỡng bách hành chính và phân biệt đối xử ngày càng gia tăng có thể dẫn đến cùng một kết quả, tuy có chậm hơn; và xu hướng sử dụng sự quản lý trực tiếp của nhà nước hay tạo ra các thiết chế độc quyền, nơi mà việc sử dụng một cách khéo léo các khích lệ tài chính có thể tạo ra các nỗ lực tự phát vẫn là tàn dư nặng nề của thời kì xã hội chủ nghĩa và sẽ còn ảnh hưởng đến chính sách trong một thời gian dài nữa.

Chính vì trong những năm tháng trước mắt hệ tư tưởng chính trị dường như không hướng tới một mục tiêu được xác định rõ ràng mà sẽ hướng tới một sự thay đổi tiệm tiến, cho nên sự hiểu biết đầy đủ quá trình, qua đó một số biện pháp có thể phá họai cơ sở của nền kinh tế thị trường và dần dần bóp nghẹt năng lực sáng tạo của nền văn minh hiện xem ra là việc quan trọng nhất. Chỉ khi chúng ta hiểu vì sao và bằng cách nào mà một số hình thức kiểm soát kinh tế lại có xu hướng làm tê liệt động lực của xã hội tự do và hình thức kiểm soát nào là đặc biệt nguy hiểm thì chúng ta mới có thể hi vọng rằng các thử nghiệm xã hội chủ nghĩa sẽ không dẫn chúng ta đến những tình thế mà tất cả chúng ta đều không hề muốn.

Tôi coi cuốn sách này như một đóng góp cho việc giải quyết nhiệm vụ đó. Tôi hi vọng rằng hiện nay, ít nhất là trong bầu không khí yên tĩnh hơn, nó sẽ được tiếp nhận như nó xứng đáng là chứ không phải như một lời kêu gọi chống lại bất kì một sự cải thiện hoặc thử nghiệm nào, mà như một lời cảnh báo rằng chúng ta phải khẳng định là bất kì sự cải biến nào trong trật tự xã hội của chúng ta cũng phải vượt qua được những cuộc kiểm tra nhất định (được mô tả trong chương trung tâm nói về Pháp quyền) trước khi chúng ta dấn bước vào những con đường mà rút lui có thể là việc khó khăn.

***

Sự kiện là khi viết tôi chỉ nghĩ đến việc xuất bản ở Anh không ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp thu của độc giả Mỹ. Nhưng ở đây có một điểm trong cách hành văn mà tôi có trách nhiệm giải thích nhằm tránh bất kì sự hiểu lầm nào. Tôi đã dùng xuyên suốt cuốn sách thuật ngữ “liberal – tự do” theo nghĩa gốc, có từ thế kỉ XIX và hiện vẫn thông dụng ở Anh. Trong ngôn ngữ hiện nay ở Mỹ, từ này thường có nghĩa gần như ngược lại. Nó là một phần của sự ngụy trang của phong trào cánh tả ở nước này, được sự trợ giúp của nhiều người ngớ ngẩn thực sự tin tưởng vào tự do, thành ra “liberal – tự do” lại có nghĩa là ủng hộ gần như tất cả các biện pháp quản lý của nhà nước. Tôi vẫn băn khoăn không hiểu tại sao những người thực sự tin vào tự do ở Hoa Kỳ không những đã để cho cánh tả chiếm mất thuật ngữ cực kì quan trọng này mà lại còn trợ giúp bằng cách tự mình sử dụng nó như là một sự lăng mạ. Đấy xem ra có vẻ như là một điều thực sự đáng tiếc vì hậu quả là nhiều người thực sự theo trướng phái tự do lại tự coi mình là bảo thủ.

Tất nhiên là trong cuộc đấu tranh chống lại những người tin vào nhà nước tòan năng, những người tin vào tự do thật sự đôi khi phải đứng chung chiến tuyến với những người bảo thủ và trong một số trường hợp, ví dụ như nước Anh hiện nay, anh ta sẽ chẳng còn cách nào khác nếu muốn hoạt động tích cực cho lý tưởng của mình. Nhưng chủ nghĩa tự do chân chính vẫn khác với chủ nghĩa bảo thủ, lẫn lộn hai thứ là điều nguy hiểm. Chủ nghĩa bảo thủ, mặc dù là một thành tố cần thiết trong bất kì xã hội ổn định nào, bản thân nó không phải là một cương lĩnh xã hội; với các xu hướng như gia trưởng, dân tộc chủ nghĩa và sùng bái quyền lực, nó thường gần với chủ nghĩa xã hội hơn là chủ nghĩa tự do chân chính; với các thiên hướng nệ cổ, phản tri thức và thường là thần bí, nó không bao giờ, ngoại trừ những giai đoạn vỡ mộng ngắn ngủi, có sức thu hút đối với thanh niên và những người tin rằng muốn thế giới này trở thành tốt đẹp hơn thì phải có một số thay đổi. Do chính bản chất của nó, phong trào bảo thủ nhất định là lực lượng bảo vệ đặc quyền đặc lợi và dựa vào quyền lực của chính phủ để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của mình. Ngược lại, cốt lõi của lập trường tự do là phủ nhận mọi đặc quyền đặc lợi, ở đây, đặc quyền đặc lợi được hiểu theo đúng nghĩa ban đầu của nó là nhà nước ban tặng và bảo vệ quyền của một số người, trong khi những người khác có cùng điều kiện lại không được hưởng các quyền đó.

Có lẽ tôi cũng cần xin lỗi độc giả vì đã để quyển sách tái xuất hiện với hình thức cũ, không có một chút thay đổi nào, dù đã mười hai năm trôi qua. Tôi đã nhiều lần định viết lại nó, có nhiều điểm tôi muốn giải thích kĩ hơn hoặc phát biểu thận trọng hơn hay củng cố bằng nhiều minh hoạ và dẫn chứng hơn. Nhưng mọi cố gắng viết lại chỉ chứng tỏ rằng tôi sẽ không bao giờ có thể viết được một cuốn sách ngắn như thế mà lại bao trùm được nhiều lĩnh vực như thế; đối với tôi, ngoài những giá trị khác mà nó có thể có, ngắn gọn là giá trị lớn nhất của nó. Tôi buộc phải đi đến kết luận rằng nếu tôi muốn đưa thêm bất kì lý lẽ nào khác thì tôi phải làm việc đó trong những khảo cứu riêng biệt. Tôi đã bắt đầu làm điều đó trong nhiều tiểu luận khác nhau, một vài tác phẩm trong số đó đưa ra những thảo luận về các vấn đề kinh tế và triết học mà cuốn sách này mới chỉ chạm nhẹ vào[6]. Tôi đã thảo luận vấn đề đặc biệt nói về nguồn gốc của các tư tưởng bị phê phán trong cuốn sách này và mối liên hệ của chúng với một vài phong trào trí thức ấn tượng nhất và mạnh mẽ nhất của thời đại chúng ta trong một cuốn sách khác[7]. Hi vọng rằng sắp tới đây tôi sẽ bổ sung cho cương lĩnh trung tâm quá ngắn của cuốn sách này bằng một khảo cứu rộng và sâu hơn về quan hệ giữa bình đẳng và công bằng[8].

Tuy vậy, vẫn còn một đề tài đặc biệt mà độc giả hi vọng nhân dịp này tôi sẽ bình luận, tôi sẽ không thể giải quyết đề tài này một cách thoả đáng mà không viết một cuốn sách mới. Chỉ hơn một năm sau khi Đường về nô lệ xuất hiện lần đầu tiên, nước Anh có một chính phủ xã hội chủ nghĩa và chính phủ này đã cầm quyền sáu năm. Và câu hỏi: kinh nghiệm này khẳng định hay bác bỏ các lý giải của tôi là câu hỏi mà tôi phải trả lời dù là một cách ngắn gọn. Trải nghiệm này đã làm tôi thêm lo lắng và, tôi tin có thể nói thêm, đã dạy cho nhiều người cái thực tế đầy khó khăn mà tôi đã chỉ ra, nhưng lý luận trừu tượng không bao giờ thuyết phục được họ. Trên thực tế, ngay sau khi chính phủ Công đảng lên cầm quyền, một số vấn đề mà tôi phê phán vốn bị người Mỹ coi là ngáo ộp lại trở thành chủ đề chính trong những cuộc thảo luận về chính trị ở Anh. Chẳng bao lâu sau, ngay cả các văn kiện chính thức cũng thảo luận một cách nghiêm túc mối nguy hiểm của chủ nghĩa toàn trị mà kế hoạch hoá kinh tế sẽ tạo ra. Minh hoạ rõ ràng nhất về thái độ của chính phủ khi logic nội tại của chính sách đã buộc chính phủ xã hội chủ nghĩa bất đắc dĩ phải áp dụng các hình thức cưỡng bức mà nó không muốn bằng đoạn văn trong Economic Survey for 1947 (Báo cáo kinh tế năm 1947 do Thủ tướng trình bày trước quốc hội vào tháng 2 năm đó) và kết luận của nó:

Có sự khác biệt căn bản giữa kế hoạch hóa tòan trị và kế họach hóa dân chủ. Kế họach hóa tòan trị đặt tất cả mọi nguyện vọng và sở thích cá nhân xuống dưới yêu cầu của nhà nước. Để đạt mục đích đó, nó phải sử dụng những biện pháp cưỡng bách khác nhau, làm cho cá nhân không còn quyền tự do lựa chọn nữa. Những biện pháp như thế có thể là cần thiết ngay cả đối với một nước dân chủ trong những trường hợp khẩn trương của một cuộc chiến tranh lớn. Vì thế người dân Anh đã để cho chính phủ thời chiến quyền điều động trực tiếp nhân lực. Nhưng trong thời bình, người dân một nước dân chủ sẽ không nhượng quyền tự do lựa chọn của mình cho chính phủ. Vì vậy, chính phủ dân chủ phải tiến hành kế họach hóa nền kinh tế sao cho vẫn bảo đảm được quyền tự do lựa chọn tối đa cho cá nhân các công dân của mình.

Điều thú vị trong lời tuyên xưng những dự định đáng ca ngợi này là sáu tháng sau chính chính phủ này cảm thấy rằng trong thời bình họ buộc phải đưa việc cưỡng bức lao động vào sách luật. Nó hầu như không làm giảm giá trị của lời tuyên xưng vì mọi người đều biết rằng nhà chức trách có quyền cưỡng bức, nhưng chẳng mấy ai chờ đợi sự cưỡng bức thực sự. Nhưng thật khó nhận ra làm sao chính phủ có thể cứ bám lấy ảo tưởng khi chính trong tài liệu đó nó đã tuyên bố rằng bây giờ chính là lúc “chính phủ chỉ ra cách sử dụng tốt nhất các nguồn lực vì quyền lợi của quốc gia” và “đề ra nhiệm vụ kinh tế cho quốc gia: nó phải chỉ ra cái gì là quan trọng nhất và mục tiêu của chính sách là gì”.

Dĩ nhiên là sáu năm cầm quyền của chính phủ xã hội chủ nghĩa ở Anh chưa tạo ra tình hình tương tự như nhà nước tòan trị. Nhưng những người khẳng định rằng điều đó đã bác bỏ luận đề của Đường về nô lệ đã không hiểu một trong những điểm quan trọng nhất của nó: thay đổi quan trọng nhất mà sự kiểm soát của chính phủ tạo ra là sự thay đổi về tâm lí, thay đổi trong tính cách của người dân. Đây chắc chắn là một công việc chậm chạp, một quá trình kéo dài không phải vài năm mà có lẽ là một hoặc hai thế hệ. Điều quan trọng là lý tưởng chính trị của người dân và thái độ của họ đối với nhà cầm quyền vừa là hệ quả vừa là nguyên nhân của những thiết chế chính trị bao trùm lên cuộc đời họ. Điều đó có nghĩa là bên cạnh những thứ khác, ngay cả một truyền thống tự do chính trị vững mạnh cũng không đủ sức bảo vệ nếu mối hiểm nguy chính là các thiết chế và chính sách làm xói mòn và phá hủy dần dần tinh thần tự do. Dĩ nhiên là có thể ngăn chặn được hậu quả nếu tinh thần tự do kịp thời lên tiếng và nhân dân không chỉ vứt bỏ cái đảng đã dẫn họ đi ngày càng xa hơn vào hướng nguy hiểm, mà còn nhận ra bản chất của hiểm nguy và kiên quyết thay đổi đường lối. Chưa có nhiều cơ sở để tin rằng nhân dân Anh đã nhận ra bản chất của mối nguy và dứt khoát sẽ thay đổi.

Nhưng tính cách của người Anh đã thay đổi, không chỉ dưới thời chính phủ Công đảng mà trong giai đọan dài hơn rất nhiều, trong đó người dân được hưởng sự bảo trợ của nhà nước phúc lợi mang tính gia trưởng. Khó chỉ ra được những thay đổi này, nhưng người ta dễ dàng nhận thấy chúng nếu sống ở đây. Để minh họa, tôi xin trích dẫn một vài đọan quan trọng từ một công trình nghiên cứu xã hội học khảo sát tác động của quá nhiều quy chế đối với tâm lí của thanh niên. Thực ra đây là chuyện liên quan đến tình hình trước khi chính phủ Công đảng nắm được quyền lực, tức là khỏang thời gian cuốn sách này được xuất bản lần đầu, và chủ yếu khảo sát các hệ quả của những quy chế thời chiến mà chính phủ Công đảng đã làm cho trở thành vĩnh viễn:

Điều đặc biệt là, ở trong thành phố phạm vi lựa chọn đã biến mất hòan tòan. Ở trường học, ở nơi làm việc, tại các phương tiện đi lại, ngay cả các thiết bị và dụng cụ gia đình, rất nhiều hoạt động phải coi là bình thường đối với con người đã bị cấm hoặc bị buộc phải làm. Những cơ quan đặc biệt, gọi là Phòng hướng dẫn công dân (Citizen’s Advice Bureau), được thành lập nhằm hướng dẫn cho những người rối trí thoát khỏi một rừng luật lệ và chỉ cho những người kiên trì những khỏang trống hiếm hoi mà người ta vẫn có thể lựa chọn… [Chàng trai thành phố] được huấn luyện để không bao giờ động đậy dù chỉ một ngón tay trước khi tìm thấy trong đầu một đạo luật nào đó. Qũy thời gian của một ngày làm việc bình thường của một thanh niên thành thị bình thường cho thấy anh ta mất rất nhiều thời gian giả vờ làm những việc đã được xác định trước trong các chỉ thị mà anh ta không hề tham gia sọan thảo, mục đích và sự thích đáng của chúng anh ta cũng không hiểu và không đủ sức phán xét… Kết luận rằng, điều chàng thanh niên thành thị cần là anh ta phải có kỉ luật hơn và bị kiểm soát chặt chẽ hơn là kết luận quá vội vàng. Nói rằng anh ta đã phải chịu đựng sự kiểm soát quá mức có lẽ là chính xác hơn…. Quan sát cha mẹ, các anh các chị, anh ta thấy họ cũng bị các quy định trói buộc chẳng khác gì mình. Anh ta thấy họ đã thích nghi với tình trạng đó đến mức ít khi tự mình lên kế hoạch hay gánh vác một trách nhiệm xã hội mới nào. Anh ta chẳng hi vọng gì về tương lai, khi tinh thần trách nhiệm mạnh mẽ sẽ có ích cho anh ta hay cho những người khác…. [Những người trẻ tuổi] phải chịu đựng quá nhiều sự kiểm soát mà họ cho là vô nghĩa cho nên họ luôn tìm cách chạy trốn và phục hồi sức lực mỗi khi kỉ luật bị buông lỏng[9].

Lo lắng rằng, cái thế hệ lớn lên trong những điều kiện như thế sẽ không vất bỏ xiềng xích mà họ đã quen có thể là thái độ quá bi quan không? Hay điều mô tả bên trên chính là sự xác nhận tiên đóan của De Tocqueville về một dạng nô lệ mới, khi:

Sau khi theo cách đó để lần lượt nắm từng công dân vào đôi bàn tay cực mạnh của mình và nhào nặn nó tuỳ thích, kẻ cầm quyền tối cao dang rộng đôi cánh tay ra toàn bộ cộng đồng. Nó bao trùm bề mặt toàn xã hội bằng một hệ thống các quy tắc nhỏ nhặt, rắc rối, tỉ mỉ, chi tiết và đồng loạt, qua đó, ngay cả những đầu óc độc đáo nhất và những tâm hồn mạnh mẽ nhất cũng chẳng thể nào nhô lên khỏi đám đông. Nó không bóp nát ý chí của con người, nhưng nó làm cho ý chí con người mềm nhũn đi, bắt mọi ý chí phải cúi đầu và điều khiển chúng. Người ta ít khi bị buộc phải hành động, nhưng người ta thường xuyên bị ngăn chặn để không hành động. Nó không thủ tiêu cái gì cả, nó chỉ ngăn chặn sự sinh sôi. Nó không bạo hành, nó chỉ gây phiền hà, nó đè nén, nó chọc tức, nó làm tắt ngấm, nó khiến cho con người chỉ còn biết há hốc mồm kinh ngạc, và cuối cùng thì toàn bộ dân tộc chỉ còn là một đàn súc vật nhút nhát và cần cù mà chính quyền là kẻ chăn dắt. Tôi luôn luôn nghĩ rằng cái thứ nô lệ chính quy, nhẹ nhàng và thanh bình như tôi vừa mô tả, còn có thể kết hợp tuyệt vời hơn là ta nghĩ với một số dạng thức bề ngoài của tự do, và thậm chí nó có thể tự củng cố dưới cái bóng chủ quyền nhân dân[10].  

Điều De Tocqueville không xem xét đến là các bạo chúa nhân từ sẽ nắm được cái chính phủ như thế trong bao lâu, trong khi các nhóm côn đồ khinh thường tất cả các phép tắc truyền thống chính trị lại có thể dễ dàng giữ được quyền lực hơn.

Có lẽ tôi phải nhắc lại với độc giả rằng tôi chưa bao giờ lên án các đảng xã hội chủ nghĩa là họ đã cố tình hướng tới chế độ tòan trị hoặc tỏ ra nghi ngờ rằng lãnh tụ của các phong trào xã hội chủ nghĩa cũ đã từng có thiên hướng như vậy. Điều tôi khẳng định trong cuốn sách này, và cái mà kinh nghiệm ở Anh thuyết phục tôi còn tỏ ra đúng đắn hơn, là những hậu quả không nhìn thấy trước, nhưng không thể tránh khỏi của kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa sẽ tạo ra một tình trạng mà nếu chính sách đó tiếp tục được theo đuổi thì các lực lượng tòan trị sẽ thắng thế. Tôi đã dứt khóat nhấn mạnh rằng “chủ nghĩa xã hội chỉ có thể đưa vào thực tiễn bằng các biện pháp mà đa số những người xã hội chủ nghĩa không tán đồng” và thậm chí còn nói thêm rằng “các đảng xã hội chủ nghĩa kiểu cũ đã bị các lý tưởng dân chủ của họ kiềm chế” và “họ không có sự tàn nhẫn cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ mà họ đã lựa chọn”. Tôi sợ cái ấn tượng sau của mọi người về chính phủ Công đảng: những người xã hội chủ nghĩa Anh ít kiềm chế hơn những người đồng nghiệp xã hội chủ nghĩa Đức hai mươi lăm năm về trước. Chắc chắn là những người dân chủ-xã hội Đức hồi những năm 1920, trong hòan cảnh kinh tế giống hoặc khó khăn hơn, chưa bao giờ tiếp cận với kế hoạch hóa tòan trị như chính phủ Công đảng đã làm.

Vì không có điều kiện khảo sát ảnh hưởng của những chính sách này một cách chi tiết, tôi xin trích dẫn những đánh giá tóm tắt của các nhà quan sát khác, những người ít bị nghi là có định kiến hơn tôi. Trên thực tế, những lời chỉ trích dữ dội nhất lại xuất phát từ chính những người mà trước đó không lâu đã từng là đảng viên Công đảng. Ông Ivor Thomas, trong cuốn sách hiển nhiên là để giải thích vì sao ông ta lại bỏ Đảng, đã rút ra kết luận: “từ quan điểm những quyền tự do căn bản của con người, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội quốc gia cũng chẳng khác nhau là mấy. Đấy đều là những thí dụ về nhà nước theo chế độ tập thể hay tòan trị mà thôi… về bản chất không chỉ chủ nghĩa xã hội đã hòan tất chính là chủ nghĩa cộng sản mà nó cũng chẳng khác chủ nghĩa phát xít là bao[11]” 

Tiến triển nghiêm trọng nhất là sự gia tăng mức độ cưỡng bức hành chính độc đoán và sự phá huỷ ngày càng gia tăng nguyên tắc pháp quyền, tức là nền tảng của nền tự do Anh, như đã được thảo luận trong Chương 6. Quá trình này dĩ nhiên đã bắt đầu từ lâu trước khi chính phủ Công đảng lên cầm quyền trong thời gian gần đây và đã bị chiến tranh làm cho mạnh thêm. Nhưng, những cố gắng kế hoạch hoá nền kinh tế dưới thời chính phủ Công đảng đã dẫn đến tình hình là liệu có thể nói nguyên tắc pháp quyền vẫn còn giữ thế thượng phong ở Anh nữa hay không. “Chế độ chuyên quyền mới” mà Ngài Chánh Án Tối Cao đã cảnh báo hai mươi lăm năm trước, như tờ The Economist nhận xét gần đây, không chỉ là nguy cơ mà đã là sự kiện chắc chắn rồi[12]. Đấy là chế độ chuyên chế được một bộ máy quản lí hành chính tận tâm và trung thực sử dụng để thực hiện cái mà họ chân thành tin là có lợi cho đất nước. Nhưng, đây lại là một chính phủ độc đóan, quốc hội không thể kiểm soát nó một cách hữu hiệu, bộ máy của nó có thể hòan thành mọi mục đích, trừ những mục đích nhân từ mà lẽ ra nó phải thực hiện. Tôi ngờ rằng không phải là quá cường điệu khi một luật gia danh tiếng người Anh, sau khi tiến hành phân tích một cách cẩn thận các xu hướng đó mới đây đã đi đến kết luận: “Ở nước Anh hiện nay, chúng ta đang sống ngay bên cạnh chế độ độc tài. Sự chuyển hóa là dễ dàng, nhanh chóng và có thể được thực hiện một cách hòan tòan hợp pháp. Rất nhiều bước theo hướng này đã được tiến hành, và vì chính phủ hiện nay đã nắm được quyền lực tuyệt đối và không có sự kiểm soát thực sự nào theo các điều khỏan của hiến pháp thành văn hay một Hạ viện hữu hiệu, những bước còn lại so ra là không đáng kể[13]”. 

Xin giới thiệu một báo cáo phân tích chi tiết chính sách kinh tế của chính phủ Công đảng Anh và những hậu quả của nó với nhan đề Ordeal by Planning của Giáo sư John Jewkes (London: Macmillan & Co., 1948). Đây là thảo luận hay nhất, mà tôi biết, về ví dụ cụ thể của những hiện tượng được bàn đến dưới dạng tổng quát của cuốn sách này. Nó là bổ sung tốt nhất cho cuốn sách mà tôi có thể đưa ra thêm ở đây và cũng là bài học quan trọng không chỉ đối với nước Anh.

Dường như ngay cả khi một chính phủ Công đảng mới lên cầm quyền ở Anh thì nó cũng sẽ không tiếp tục những cuộc thử nghiệm quốc hữu hóa và kế hoạch hóa trên quy mô lớn nữa. Nhưng ở Anh, cũng như ở bất kì nơi nào khác trên thế giới, việc đánh bại cuộc tấn công quyết liệt của chủ nghĩa xã hội chỉ mới tạo cho những người lo lắng cho việc giữ gìn tự do một chút giải lao nhằm xem xét lại những tham vọng của chúng ta và lọai bỏ nốt những di sản của chủ nghĩa xã hội có thể gây nguy hiểm cho xã hội tự do. Không có một quan điểm đã được xét lại như thế về các mục tiêu xã hội của chúng ta thì chúng ta sẽ tiếp tục bị cuốn trôi theo cái hướng mà chủ nghĩa xã hội triệt để chỉ đơn giản là đưa chúng ta đi nhanh hơn một chút mà thôi.

F. A. Hayek

 Lời tựa cho lần xuất bản năm 1944

Khi một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp trong lĩnh vực khoa học xã hội viết sách về chính trị thì anh ta phải có trách nhiệm nói thẳng ra như thế. Vâng, đây là cuốn sách viết về chính trị và tôi không muốn làm ra vẻ như là đang nói về một cái gì khác, dù rằng tôi đã có thể đặt cho nó một cái tên tao nhã hơn như là tiểu luận về triết học-xã hội chẳng hạn. Nhưng, dù có gọi thế nào thì thực chất vẫn là tất cả những điều tôi viết đều xuất phát từ những giá trị nền tảng nhất định. Tôi hi vọng rằng mình đã hòan thành cả nhiệm vụ không kém phần quan trọng thứ hai: giải thích rõ những giá trị nền tảng đó – trụ cột cho những lập luận được đưa ra trong cuốn sách này.

Cũng cần phải nói thêm: mặc dù đây là cuốn sách viết về chính trị, nhưng tôi tuyệt đối tin tưởng rằng các quan điểm được trình bày ở đây không xuất phát từ những lợi ích cá nhân của tôi. Chẳng có lý do gì để cái xã hội mà tôi mong muốn phải cho tôi đặc quyền đặc lợi so với đa số đồng bào của mình. Trên thực tế, các đồng nghiệp theo trường phái xã hội chủ nghĩa của tôi vẫn luôn nói với tôi rằng, trong cái xã hội mà tôi vốn phản đối đó, một nhà kinh tế học như tôi chắc chắn sẽ chiếm được vị trí đáng kể hơn rất nhiều – với điều kiện là nếu tôi có thể chấp nhận được quan điểm của họ. Tôi cũng tuyệt đối tin tưởng rằng, sự bất đồng của tôi với các quan điểm như thế không phải là kết quả của nền giáo dục bởi vì đấy chính là những quan điểm của tôi thời thanh niên và chính chúng đã thôi thúc tôi chọn kinh tế học làm nghề nghiệp của mình. Đối với những người, theo thói thường hiện nay, lúc nào cũng sẵn sàng xăm soi động cơ vụ lợi trong mọi lời phát biểu về quan điểm chính trị thì xin được nói rằng tôi có đủ lý do để không viết và không công bố tác phẩm này. Chắc chắn nó sẽ làm nhiều người mà tôi muốn giữ quan hệ hữu hảo cảm thấy khó chịu. Vì cuốn sách này mà tôi buộc phải hoãn một tác phẩm khác thuộc chuyên ngành của mình và theo tôi là quan trọng hơn về dài hạn. Và cuối cùng, cuốn sách này chắc chắn sẽ gây khó khăn cho sự tiếp thu các kết quả nghiên cứu có tính hàn lâm hơn của tôi, những thứ mà tôi đã hết lòng theo đuổi.

Nếu, dù với tất cả những điều đã trình bày, tôi vẫn coi việc công bố cuốn sách này là nhiệm vụ mà tôi không thể lẩn tránh thì chỉ là vì các cuộc thảo luận hiện nay về chính sách kinh tế trong tương lai đang diễn ra trong tình trạng vừa kì lạ vừa chứa đầy những hậu quả không thể lường trước, nhưng lại hầu như không được công chúng nhận thức đầy đủ. Vấn đề là mấy năm gần đây phần lớn các nhà kinh tế học đều bị lôi kéo vào lĩnh vực quân sự và vì thế mà phải im tiếng. Kết quả là, dư luận xã hội đã bị những kẻ nghiệp dư lèo lái, những kẻ lợi dụng tình hình nước đục thả câu hoặc những gã lang băm rao bán thuốc trị bá bệnh. Trong tình hình như thế, liệu một người có thời gian viết lách có quyền giữ trong lòng những mối bận tâm mà nhiều người, khi quan sát các xu hướng hiện thời, cùng cảm thấy nhưng không thể nói ra được? Trong những hoàn cảnh khác, tôi sẵn lòng nhường cuộc tranh luận về chính sách quốc gia cho những người có thẩm quyền hơn và có hiểu biết hơn về lĩnh vực này.

Luận điểm cốt yếu của cuốn sách này được trình bày lần đầu tiên trong bài báo Freedomand the Economic System (Tự do và hệ thống kinh tế  trên tờ Contemporary Review vào tháng 4 năm 1938, rồi được mở rộng ra thành một trong những cuốn sách mỏng về chính trị xã hội do Giáo sư H. D. Gideonse chủ biên và được nhà xuất bản của trường đại học Chicago ấn hành. Tôi xin cảm ơn các nhà xuất bản hai ấn phẩm này đã cho tôi chép lại một vài trích đoạn.

[1] Ví dụ điển hình nhất về sự phê bình cuốn sách từ phía cánh tả ở Anh là nghiên cứu nhã nhặn và thẳng thắn của cô Barbara Wootton, Freedom under Planning (London: Georege Allen & Unwin, 1946). Ở Mỹ người ta thường trích dẫn tác phẩm này như một lời phản bác hữu hiệu những luận cứ của tôi, mặc dù tôi có cảm giác rằng nhiều độc giả cũng có cảm tưởng như một nhà bình luận Mĩ đã nói: “Dường như về căn bản nó khẳng định luận đề của Hayek” (Chester I. Barnard, Southern Economic Journal, January, 1946).

[2] Lúc đó tôi đâu có biết rằng, như một cố vấn cho một trong các hãng đã tự nhận từ khi ấy, đấy không phải là do nghi ngờ về sự thành công của cuốn sách mà là do thành kiến chính trị, đến mức cho cuốn sách là “không phù hợp đối với một nhà xuất bản có danh tiếng” (Xem tuyên bố của William Miller được W. T. Couch trích dẫn trong “The Sainted Book Burners”, The Freeman, April, 1955, P. 423, và William Miller, The Book Industry: A Report  of the Public Library Inquiry of the Social Science Research Council (New York: Columbia University Press, 1949), P. 12). 

[3] Đóng góp không nhỏ cho thành công là việc xuất bản bản rút gọn trên tờ Reader’s Digest, và tôi xin bày tỏ ở đây sự chứng nhận công khai tài khéo của các biên tập viên tạp chí trong việc rút gọn tác phẩm mà không có sự trợ giúp của tôi. Chắc chắn là việc nén một luận cứ phức tạp xuống chỉ còn một phần độ dài ban đầu của nó sẽ tạo ra sự đơn giản hoá quá mức, nhưng việc rút gọn mà không bị méo mó và tốt hơn là chính tôi tự làm đã là một thành công đáng kể rồi.

[4] Độc giả nào muốn thấy một tiêu bản về sự bất lương và thoá mạ có lẽ là có một không hai trong thảo luận học thuật đương thời xin đọc Road to Reaction (Boston: Little Brown & Co., 1945) của giáo sư Herman Finer.  

[5] Không nghi ngờ gì rằng tác phẩm 1984 của George Orwell là tác phẩm hữu ích nhất trong số đó. Ông Orwell trước đó cũng vui lòng phê bình cuốn sách này.

[6] Individualism and Economic Order (Chicago, 1948)

[7] The Counter Revolution of Science (Glencoe, III., 1952)

[8] Bản thảo về chủ đề này đã được National Bank of Egypt xuất bản dưới hình thức bốn bài giảng trong The Polotical Ideal of the Rule of Law (Cairo, 1995)

[9] L. J. Barnes, Youth Service in an Enghlish Country: A Report Prepared for King George’s Jubilee Trust (London, 1945).

[10] A. de. Tocqueville, Democracy in America, Part II, Book IV, chap. VI. Phải đọc cả chương này mới thấy hết sự sáng suốt của De Tocqueville, ông đã tiên đoán được ảnh hưởng tâm lí của nhà nước phúc lợi hiện đại. De Tocqueville thường nó tới “tình trạng nô lệ mới” và đấy chính là gợi ý cho nhan đề của cuốn sách này.

[11] The Socialist Tragedy (London: Latimer House Ltd., 1949), pp. 241 and 242.

[12] Trong bài báo trong số ra ngày 19 tháng 6 năm 1954, thảo luận the Report on the Public Inquiry Ordered by the Minister of Agriculture into the Disposal of Land at Crichel Down (Cmd. 9176; London: H. M. Stationery Office, 1954), những người quan tâm đến tâm lí học của bộ máy kế hoạch hoá quan liêu rất nên nghiên cứu kĩ lưỡng tài liệu này.

[13] G. W. Keeton, The Passing of Parliament (London, 1952)